Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2012

Mô hình Groupon kiểu Việt Nam

vietnam-grouponCũng có thể ăn nên làm ra như mô hình gốc ở Mỹ, nhưng Groupon kiểu Việt vẫn mắc phải một vài rào cản đặc trưng chỉ có ở Việt Nam.

Hiện nay, hình thức mua hàng theo nhóm đang trong giai đoạn bùng phát tại Việt Nam. Đối với người tiêu dùng, việc tìm kiếm sản phẩm phù hợp và tham gia hình thức này như một thú vui hay một cách tiết kiệm chi phí đáng kể. Hơn nữa, về khía cạnh marketing, đây còn là một luồng gió mới trong hoạt động thương mại điện tử.

Từ "thánh Gióng" ở Mỹ đến "thần đồng đất Việt"

"Mua hàng theo nhóm" được biết tới trên thế giới qua cái tên Groupon (Groupon.com). Cái tên này có ý nghĩa Group + Coupon, tức là nhóm và thẻ giảm giá.

Khởi đầu của Groupon.com là Thepoint.com do Andrew Mason, một sinh viên trường nhạc mê lập trình thành lập. Thepoint.com như một website cộng đồng, hoạt động dựa trên nguyên tắc khi có một số lượng đủ lớn người quan tâm đến một điều nào đó thì sẽ xảy ra hành động thực hiện điều đó. Ví dụ: xem phim, nghe nhạc, đi du lịch cùng nhau với chi phí tiết kiệm. Sau hơn 1 năm hoạt động, Thepoint.com thu hút được một lượng thành viên nhất định và doanh thu từ quảng cáo không được như kỳ vọng. Trước bờ vực đóng cửa, họ đã tìm ra một giải pháp: đem sự sáng tạo của mình vào sân chơi thương mại điện tử. Và Groupon.com ra đời.

Groupon được đầu tư bởi Digital Sky Technologies (Nga), quỹ từng thành công với Facebook . Groupon chỉ mất 18 tháng kể từ khi chuyển đổi để đạt giá trị 1 tỉ USD và đầu năm 2011 Google đã hỏi mua với giá khoảng 6 tỉ USD nhưng không được.

Có thể nói, Groupon đã thổi một luồng gió mới vào lĩnh vực thương mại điện tử, nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng hài lòng với nó. Giáo sư Jesse H.Jones từ Đại học Rice (Mỹ) đã thực hiện một cuộc khảo sát với 150 doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Mỹ từng tham gia Groupon. Kết quả: 66% doanh nghiệp đánh giá việc tham gia thu về lợi nhuận, 32% kêu lỗ. Đến 40% doanh nghiệp cho biết sẽ không tham gia lần hai. Dịch vụ làm đẹp thu được lợi nhuận cao nhất từ mô hình này trong khi các nhà hàng, quán ăn thất bại thê thảm.

Chỉ đi sau mô hình tại Mỹ hơn 1 năm, vào nửa cuối 2010, các kênh trung gian như Groupon đã lần lượt xuất hiện tại Việt Nam, bắt đầu làm cho người tiêu dùng quen với hình thức mới mẻ này. Những gương mặt tiêu biểu đầu tiên gồm: Phagia.com.vn, Cucre.vn, Vndoan.vn.

Mặc dù được hỗ trợ từ nguồn quảng cáo nội bộ nhưng rất tiếc là chiến lược của những Groupon kiểu Việt này không rõ ràng, truyền thông không hiệu quả (như cái tên Vndoan.com thực sự là đánh đố người tiêu dùng). Vì thế, dù xuất hiện khá sớm nhưng những kẻ tiên phong lại đang tụt hậu so với nhiều người mới.

Nhommua.vn : Là con đẻ của trang bản đồ Diadiem.com có ưu thế về dữ liệu địa điểm. Hơn nữa lại được đầu tư bởi Rebate Networks, công ty đã đầu tư vào nhiều Groupon ở nhiều Quốc Gia .

Muachung.vn: Thuộc "dòng dõi" Công ty Cổ phần Truyền thông Việt Nam (VC Corp.) với số lượng anh em đông đảo như Dantri.com, Enbac.com, Rongbay.com, Kenh14.com, CafeF.vn, Afamily.vn. Đặc biệt, Muachung được thừa hưởng "gene" của VC Corp. về nền tảng kỹ thuật, kinh nghiệm truyền thông và kiến thức thương mại điện tử. Thế mạnh truyền thông của VC Corp. có thể được kết luận: "Ai làm truyền thông mạnh nhất thì Muachung.vn có thể làm mạnh hơn với chi phí chỉ bằng một nửa". Và đây là một trong những kênh trung gian có lãi duy nhất tới thời điểm này.

Deal.zing.vn : thuộc hệ thống Zing.vn (VNG chủ quản), nơi có cộng đồng thanh thiếu niên độ tuổi 13-19 lớn nhất Việt Nam hiện nay. Nhưng dường như chiến lược của Deal.zing.vn là khai thác sâu hơn, cũng như làm đa dạng hơn cộng đồng mạng vốn có của mình.

Một số kênh trung gian còn lại đang hoạt gồm PhaGia.com.vn , Cungmua.vn , Uudai.vn , Kenhgia.com , Doimua.vn và Hotdeal .

phagia

Bán mà không phải là bán

Trước tiên, có thể nhìn nhận Groupon là một hình thức hợp tác win-win, giống như cách mà các website đặt phòng khách sạn lâu nay đã làm, nhưng mức giảm giá cao hơn nhiều nên khách hàng luôn được lợi. Quan trọng hơn, bản chất của mua hàng theo nhóm không phải bán hàng mà là thu hút khách hàng mới và truyền thông.

Do vậy, các doanh nghiệp tham gia đăng tải sản phẩm lên các kênh trung gian này nên xem đây là một giải pháp trong kế hoạch marketing tổng thể. Nếu không, doanh nghiệp sẽ khó phát huy được hiệu quả hoặc có thể trở thành thảm họa nếu coi đây như một hình thức giảm chất lượng - bán dưới giá. Ví dụ như một trường hợp mà người viết bài này từng trải qua: Khi dùng thẻ giảm giá để sử dụng dịch vụ tại quán De Flore Coffee (Hà Nội), khách hàng phải báo trước là có dùng thẻ và được "chào đón" bằng một cốc sinh tố loãng bất ngờ.

Ngược lại, nếu biết cách tận dụng cộng đồng người tiêu dùng quan tâm đến sản phẩm/dịch vụ của mình và hình thức truyền thông của kênh trung gian, chi phí quảng cáo của doanh nghiệp tham gia sẽ trúng đích. Ví dụ như sự kiện mua 20 chiếc iPad giá 0 đồng tại Nhommua.com. Toàn bộ thông tin về iPad được truyền tải chi tiết và chỉ sau hơn nửa thời gian quy định đã có 22.000 người đăng ký tham gia. Không những thế, họ lại tiếp tục đẩy tin cho người quen để kiếm thêm cơ hội.

Tuy nhiên, hình thức mua hàng theo nhóm không dành cho mọi loại sản phẩm. Chắc chắn là sẽ khó lòng thấy điện thoại hay laptop được bán theo hình thức này. Nếu có thì đó là lúc xả hàng, số lượng ít.

Các sản phẩm xuất hiện theo hình thức này thường có chung các đặc điểm: chi phí cố định chiếm tỉ trọng cao trong giá thành, không có kênh bán lẻ chính thức, có giá trị so sánh không hoàn hảo (chỗ ngồi khác nhau, thời điểm khác nhau, nhân viên phục vụ khác nhau, tâm trạng khác nhau...). Ví dụ: Bạn có một nhà hàng, bạn vẫn phải trả lương nhân viên, chi phí thuê mặt bằng mỗi tháng, dù tháng đó ít hay nhiều khách. Bạn muốn gia tăng khách bằng cách giảm giá kiểu Groupon. Vậy thì bạn có thể tạo lợi thế giá bằng việc chỉ tính tiền thức ăn, nếu thoáng hơn, bạn giảm thêm chút nữa coi như để marketing. Vậy là ta vừa có khách lại không lỗ bao nhiêu. Nếu tính chi tiết chi phí truyền thông của kênh trung gian để ra hàng, xem ra còn có lãi.

Về phía kênh trung gian, nếu không thuyết phục khách hàng doanh nghiệp nhìn nhận đây như một hoạt động marketing và đồng ý tăng mức giảm giá đối với sản phẩm, đó là thất bại đầu tiên. Bởi chi phí marketing sẽ phải gia tăng khiến lợi nhuận thu về rất thấp.

Những rào cản của Groupon kiểu Việt

So sánh với trang Groupon khuôn mẫu ở Mỹ, các anh tài đất Việt phải đối mặt với thách thức ghê gớm là chi phí truyền thông. Làm sao để thu hút lượng người quan tâm đủ lớn để lượt mua chung có hiệu lực? Làm truyền thông thế nào cho hiệu quả để doanh nghiệp hài lòng khi hợp tác? Hai câu hỏi này khiến cho những người làm kế hoạch marketing phải đau tim khi làm phép cộng chi phí.

Tiếp đến là vấn đề lợi nhuận. Điều này bộc lộ nhược điểm cố hữu của thương mại điện tử tại Việt Nam: Thanh toán trực tuyến và niềm tin khi mua hàng qua mạng. Vì thế, các kênh trung gian bị đẩy vào thế cầm dao đằng lưỡi và khó khăn gấp đôi những người chung màu áo ở nước ngoài.

Các kênh trung gian nước ngoài có nhiều phương tiện hơn để đa dạng hóa việc kinh doanh. Chẳng hạn, nếu không thu hút đủ số lượng người mua, lượt mua chung ấy bị hủy bỏ, họ hoàn tiền cho khách hàng hoặc đề nghị mức giảm giá thấp hơn. Điều quan trọng là phương thức hoàn tiền của họ khả tín và rất đơn giản nhờ hạ tầng thương mại điện tử phát triển.

Trong khi đó, việc giao tiếp điện tử tại Việt Nam còn nhiều hạn chế khiến cho hình thức giao dịch chủ yếu vẫn là giao thẻ tận nhà, đẩy chi phí lên kênh trung gian.

Tương tự, nếu số lượng người mua không đủ lớn, các kênh trung gian ở Việt Nam muốn hoàn tiền cũng phải bằng cách giao trực tiếp. Tuy nhiên, chi phí hoàn tiền cao, tâm lý của khách hàng đối với một đơn hàng không thành công (dù được hoàn tiền) sẽ ảnh hưởng lớn tới tiếng tăm của kênh, chưa kể tới các tranh chấp phát sinh. Có lẽ chỉ những "anh lớn" như Muachung.vn, Nhommua.com mới có khả năng vượt qua thách thức này.

Các kênh trung gian nhỏ bị một áp lực là phải tham gia như một nhà phân phối chuyên nghiệp. Nếu không, sớm muộn họ sẽ trở thành kênh quảng cáo miễn phí cho các nhà cung cấp: mất công rao hàng nhưng không đủ lượng người mua để thực thi mức giảm giá. Họ phải đặt mua lô hàng lớn, xác định mức chiết khấu trước khi rao bán. Vậy nên sẽ không lạ nếu thời gian tới, một số sản phẩm lặp lại quá nhanh tại cùng một kênh hoặc xuất hiện tại nhiều kênh. Bởi họ cũng bị tồn hàng và việc liên minh để đá hàng qua lại là bình thường. Tóm lại, marketing cho người, marketing cho mình và bán sản phẩm, họ phải chịu tất.

Tiếp đến, tâm lý mua hàng rẻ khiến người dùng thiếu tự tin. Song hành là thực trạng người phục vụ không niềm nở với khách khuyến mãi. Mở rộng về niềm tin khi mua hàng qua mạng thì có lẽ còn phải bàn tới cả hạ tầng pháp luật tại Việt Nam, nhưng vấn đề nằm ngoài giới hạn của bài viết này.

Trông có vẻ "ngon ăn" nhưng thị trường này hiện rất "đỏ" và áp lực vốn đầu tư khiến những "tay chơi" mới phải tính toán cẩn thận hơn. Để thành công được thì vẫn loanh quanh các tham số: chi phí tối ưu, chiết khấu cao nhất, số lượng người mua lớn. Và việc kiếm tìm những khe "xanh" cũng như đưa ra chiến thuật hoạt động hợp lý là cần thiết.

Có 2 giải pháp người viết từng nghĩ đến và trao đổi với một số người trong ngành. Một giải pháp là xác định "ngách" thị trường đã được Nhommua.com áp dụng: chọn mảng du lịch làm mũi nhọn. Mới đây, họ đã dành một tab riêng trên website cho mảng du lịch.

Giải pháp thứ 2 là về chiến thuật bán hàng. Ta thử nghĩ đến một cách thức nào đó bán được cho nhiều người nhất nhưng chỉ tiếp cận ít người xem. Dù không quá hoành tráng và phải nắn nót hơn nhưng cái quan trọng vẫn là tồn tại được và có lãi.

- Anh Đỗ -

(Thanh Phương -

Theo Nhịp Cầu Đầu Tư)

Share:

Thứ Bảy, 6 tháng 10, 2012

Vincom và Vinpearl sáp nhập

Mã cổ phiếu VIC và VPL của 2 doanh nghiệp này đang niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán TP HCM cũng dự kiến được sáp nhập làm một trong thời gian tới.

Vincom-Vinpearl

Lãnh đạo Tập đoàn Vingroup vừa có quyết định về việc sáp nhập Công ty Vinpearl (HOSE: VPL) vào Công ty Vincom (HOSE: VIC). Sau khi hoàn tất các thủ tục, Vincom sẽ hoạt động dưới tên mới là Công ty cổ phần Tập đoàn Đầu tư Việt Nam (Tập đoàn Vingroup).

Theo lãnh đạo Vingroup, việc sáp nhập này là cần thiết để tập trung nguồn lực cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. "Vincom hoạt động chính trong lĩnh vực bất động sản trong khi Vinpearl kinh doanh du lịch. Hai lĩnh vực có sự liên quan mật thiết và bổ trợ cho nhau nên việc sáp nhập là hợp lý", Chủ tịch Vincom, đồng thời là Phó chủ tịch Vingroup - Lê Khắc Hiệp cho biết.

Cũng theo thông tin từ phía Vingroup, sau khi sáp nhập, 2 cổ phiếu VIC và VPL đang niêm yết tại HOSE cũng sẽ được hợp nhất. Doanh nghiệp sẽ công bố kế hoạch và lộ trình cụ thể trong thời gian tới.

Vincom và Vinpearl hiện có vốn điều lệ lần lượt là hơn 3.900 tỷ đồng và 2.000 tỷ đồng. Việc sở hữu cổ phiếu của 2 doanh nghiệp này (153 triệu cổ phiếu VIC và 19,8 triệu cổ phiếu VPL) đã giúp "đại gia" Phạm Nhật Vượng trở thành người giàu nhất trên sàn chứng khoán Việt Nam năm 2010, theo thống kê của VnExpress.net, với tổng giá trị tài sản cổ phiếu lên tới hơn 15.800 tỷ đồng.

- Nhật Minh -

(Thanh Phương -

Theo Vnexpress)

Share:

Thứ Sáu, 5 tháng 10, 2012

VIPdatabase đổi tên thành VIPsearch

Công ty Tư vấn nhân sự Nhân Việt, một trong những đơn vị cung cấp dịch vụ tư vấn và thuê ngoài nhân sự hàng đầu tại Việt Nam, vừa công bố việc sáp nhập với thành viên trực thuộc là VIPdatabase.

VIPSeach-logo

Logo mới của VIPsearch với điểm nhấn mũi tên đỏ, tượng trưng cho sự am hiểu về nhu cầu của khách hàng và nhân sự mục tiêu.

Đồng thời, Nhân Việt đổi tên bộ phận này thành VIPsearch cùng thông điệp chính thức "Find Talents. Add Values.", nghĩa là "Tìm kiếm nhân tài. Gia tăng giá trị."

VIPsearch sẽ hoạt động như một bộ phận kinh doanh chuyên biệt trực thuộc Nhân Việt với chức năng hoạt động chính là cung cấp dịch vụ săn tìm và tuyển chọn ứng viên cao cấp trong 5 lĩnh vực ngành nghề nóng trên thị trường, bao gồm: hàng tiêu dùng nhanh, tài chính, công nghệ thông tin, công nghiệp và dịch vụ. Đây được xem là một trong những nét khác biệt của đơn vị này so với các đơn vị cung cấp dịch vụ tuyển dụng khác trên thị trường.

Ngoài ra, VIPsearch sẽ vẫn tiếp tục là thành viên chính thức của Glasford International tại Việt Nam - một tổ chức quốc tế hoạt động trong lĩnh vực săn tuyển các vị trí quản lý cấp cao, cung cấp các giải pháp nhân sự cho khách hàng trên toàn cầu.

Ông Huỳnh Minh Quân, Tổng giám đốc Nhân Việt, nói: "Sự kiện này đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của công ty, qua đó khẳng định rõ định hướng của VIPsearch tập trung vào dịch vụ săn tìm và tuyển chọn ứng viên cao cấp (VIP) với sứ mệnh mang đến cho khách hàng những giải pháp tuyển dụng nhân sự thật hiệu quả thông qua nguồn ứng viên tiềm năng, đầy đủ năng lực để đảm nhận các vị trí trọng yếu tại các công ty trong và ngoài nước."

Thành lập từ năm 2003, Nhân Việt là một trong những đơn vị cung cấp dịch vụ tư vấn và thuê ngoài hàng đầu tại Việt Nam với thế mạnh trong lĩnh vực quản trị nguồn nhân lực. Các dịch vụ và giải pháp chính của công ty bao gồm: tuyển chọn và săn tìm ứng viên cao cấp, tư vấn hệ thống quản trị nhân sự, nghiên cứu nguồn nhân lực, giải pháp quản trị lương, các dịch vụ nhân sự thuê ngoài.

(Duy Tuyên -

Theo Vneconomy)

Share:

Thứ Tư, 3 tháng 10, 2012

10 thương hiệu thành công nhất thế giới năm 2010

thuong-hieu-2010Tạp chí 24/7 Wall St vừa công bố đánh giá những thương hiệu thành công nhất năm 2010, dựa trên tổng giá trị thương hiệu, doanh số kinh doanh hàng tháng và khả năng phát triển kinh doanh sau mỗi thời kỳ của từng công ty.

1. Amazon vẫn tiếp tục khẳng định vị trí số một trong số những hãng kinh doanh thương mại điện tử hàng đầu thế giới. Năm 2010, Amazon dự định bán hai  triệu bản e-readers và thực tế cho thấy hãng này không có một đối thủ nào trong lĩnh vực kinh doanh sách báo và tạp chí điện tử.

Sản lượng kinh doanh của hãng tăng 150% năm 2009. Trên sàn chứng khoán, những gì Amazon thể hiện cũng rất ấn tượng. Tổng giá trị thương hiệu của hãng này khoảng 25 tỉ USD.

2. BlackBerry , dòng điện thoại thông minh của hãng Research in Motions (RIM) liên tiếp đứng đầu trong làng điện thoại di động thế giới.

Lợi nhuận tăng và số lượng thuê bao phát triển nhanh chóng đã đưa RIM trở thành cái tên đình đám với tổng giá trị thương hiệu lên đến 35 tỉ USD.

3. Nike không hề có bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy sự sụt giảm hình ảnh trong dòng các sản phẩm thể thao. Doanh số kinh doanh đặc biệt tốt vào quý IV năm 2009 của hãng khẳng định điều đó.

Những đơn đặt hàng từ khắp nơi trên thế giới đang đổ về Nike với con số 7 tỉ USD chỉ trong vòng từ tháng 12 - 2009 đến tháng 4 - 2010. Tổng giá trị thương hiệu của Nike là 20 tỉ USD.

4. Goldman Sachs - công ty chứng khoán thu nhiều lợi nhuận nhất trong lịch sử Phố Wall - dường như đang phục hồi sau đợt khủng hoảng chưa từng thấy.

Quý IV năm ngoái, Goldman ghi điểm một cách ấn tượng với kỷ lục đầu tư ngân hàng tốt nhất trong lịch sử kể từ trước đến nay của hãng. Với thành công này, Goldman đã nâng giá trị thương hiệu của mình lên đến 13 tỉ USD.

5. Oracle là số một trong hệ thống ngành công nghiệp phần mềm trên thế giới, bất chấp sự cạnh tranh khốc liệt từ các đại gia khác như Microsoft , SAP, và Salesforce.com.

Lợi nhuận của Oracle tăng lên 13% trong quý IV năm 2009, dù đó được coi là thời kỳ ảm đạm của ngành công nghệ thông tin. Doanh thu của công ty cũng tăng 14%.

Oracle còn khẳng định thêm sức mạnh khi mua về công ty Sun. Giá trị thương hiệu của Oracle là 26 tỉ USD.

6. JPMorgan Chase là ví dụ khác về sự thành công của công ty dịch vụ tài chính mà thương hiệu đã trụ vững và tiếp tục phát triển suốt thời kỳ khủng hoảng năm 2009.

JPMorgan là một trong những hãng dịch vụ tài chính lâu đời nhất trên thế giới. Công ty này có trụ sở tại New York, Mỹ, là đơn vị hàng đầu trong dịch vụ tài chính, lĩnh vực ngân hàng đầu tư và quản lý tài sản.

Giám đốc điều hành Jamie Dimon của công ty được coi là nhà quản lý cao cấp tài ba nhất trong ngành này. Giá trị thương hiệu của công ty là 15 tỉ USD.

7. Google đã trở thành cái tên quá quen thuộc và giờ đây nó vẫn khẳng định là thương hiệu giàu có nhất với tổng giá trị thương hiệu cao nhất: 140 tỉ USD.

Gần đây, Google đang mở rộng sang đầu tư vào ngành kinh doanh hệ thống điều hành trên điện thoại di động với sản phẩm mã nguồn mở Android.

Google đang trở thành một trong những nhà cung cấp phần mềm cho điện thoại thông minh quan trọng nhất trên thế giới. Google dần khẳng định khả năng thống trị từ môi trường máy tính sang thiết bị di động.

8. Ford vẫn giữ được giá trị thương hiệu với 28 tỉ USD, bất chấp những ngày tháng đen tối của ngành công nghiệp ô tô Mỹ trong suốt năm 2009.

Những thương hiệu xe Mỹ đang dần bị thay thế bởi những cái tên khác như Nissan, Porsche, và Honda. Thế nhưng, Ford vẫn là nhà sản xuất xe hơi duy nhất của Mỹ trụ vững trên thị trường.

Cho ra mắt những mẫu xe mới tiết kiệm nhiên liệu đã giúp Ford lấy lại thị phần của mình sau 52 tuần giảm sút.

9. Avon – thương hiệu này chỉ bắt đầu khởi sắc từ quý IV năm 2009 nhưng nhanh chóng có bước đột phá với thị phần tăng gấp đôi. Doanh thu của Avon chạm mốc 2,6 tỉ USD trong quý IV.

Theo các chuyên gia dự tính, lợi nhuận của hãng này sẽ tăng khoảng 10% trong năm 2010 và mang về 11,4 tỉ USD. Giá trị thương hiệu hiện tại của Avon là 14 tỉ USD.

10. McDonald vẫn tiếp tục mở rộng sự thống trị trong ngành công nghiệp kinh doanh đồ ăn nhanh.

McDonald không chỉ phổ biến ở nước Mỹ mà còn nhanh chóng có được những thành công trên thị trường quốc tế như Canada, Nhật Bản, Australia và Đức.

Ngày nay, khoảng 1,5 triệu người làm việc cho McDonald trên toàn thế giới.

Khởi đầu, McDonald chỉ là một hiện tượng của nước Mỹ nhưng nay nó đã trở thành một thương hiệu quốc tế đích thực. Doanh số của hãng không ngừng tăng lên sau mỗi tháng, đặc biệt phát triển ở Trung Quốc và các nước châu Á khác.

Mỗi năm, hãng này mở thêm khoảng 200 cửa hàng trên toàn thế giới. Doanh thu của năm 2009 là 3,96 tỉ USD. Tổng giá trị thương hiệu này là 75 tỉ USD.

(Thanh Phương -

Theo Tiền Phong/24/7 Wall St)

Share:

Thứ Ba, 2 tháng 10, 2012

Top 15 nhãn hiệu chi “mạnh tay” nhất 2009

quang-cao-dr-thanhMột nhãn hiệu Việt chi tới 15,3 triệu USD, chiếm ngôi vị số 1 trong bảng xếp hạng top 15 nhãn hiệu chi nhiều tiền nhất trong năm 2009, cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam đã nhận ra vai trò sống còn của việc xây dựng thương hiệu.

Theo số liệu do Công ty Nghiên cứu thị trường TNS cung cấp thì các công ty sữa vốn được nhận định là các "đại gia" mạnh tay chi tiền trong lĩnh vực này đã bị loại ra khỏi Top 15 năm 2009 khi một nhãn hiệu sữa duy nhất trong bảng xếp hạng 2008 đã bị đẩy ra.

Nhãn hiệu Việt Nam và các con số chi phí khổng lồ

Danh sách 15 nhãn hiệu chi nhiều nhất cho quảng bá nhãn hiệu, thương hiệu năm 2009 gần như được chia đều giữa các nhãn hiệu Việt và các nhãn hiệu nước ngoài khi có tới 7 nhãn hiệu Việt Nam có mặt trong bảng xếp hạng này.

Trong năm 2009, Công ty Tân Hiệp Phát đã bỏ ra số tiền khổng lồ là 15,3 triệu USD cho nhãn hiệu trà Dr. Thanh, chi phí đầu tư tăng tới 1.762% và tăng 147 bậc so với năm 2008. Việc này đã đưa Dr. Thanh chiếm vị trí số 1 trong Top 15 nhãn hiệu chi nhiều tiền nhất năm 2009 - "qua mặt" tất cả các "đàn anh" đứng trong bảng xếp hạng nhiều năm liền.

Đứng vị trí thứ 3 trong bảng xếp hạng là nhãn hiệu 8798 - dịch vụ nhắn tin với số tiền chi cho xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu lên tới 11,7 triệu USD. Do số lượng người sử dụng điện thoại di động tại Việt Nam trong những năm gần đây ngày càng tăng là lí do hãng này tăng 251% (so với năm 2008) phí đầu tư cho quảng bá thương hiệu năm 2009.

Công ty Tân Hiệp Phát tiếp tục dốc tới 10 triệu USD, tăng 210% số tiền xây dựng nhãn hiệu Number 1 O độ, đưa nhãn hiệu này tăng tới 16 bậc so với năm 2008 và chiếm lĩnh vị trí thứ 4 trong bảng xếp hạng.

Các vị trí kế tiếp thuộc về 2 nhà mạng Vinaphone và Mobifone. Mặc dù, Vinaphone đã tăng ngân sách lên tới 33% cho xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu trong năm 2009 nhưng chỉ giữ vị trí số 7, tụt 4 bậc trong bảng xếp hạng so với năm 2008.

Trong khi đó, Mobifone là nhãn hiệu, thương hiệu duy nhất đã cắt giảm chi phí xây dựng hình ảnh năm 2009 tới 27%, còn 69 triệu USD, rơi từ vị trí số 2 năm 2008 xuống vị trí thứ 9 trong bảng xếp hạng.

Nhãn hiệu Việt tiếp theo lọt vào bảng xếp hạng tiếp tục là Dịch vụ nhắn tin 8701 với 6,8 triệu USD, tăng chi phí đầu tư 121% so với năm 2008 đã đưa nhãn hiệu 8701 tăng 14 bậc và giữ vị trí thứ 11 trong bảng xếp hạng.

Nhãn hiệu Việt cuối cùng giữ vị trí thứ 14 trong bảng xếp hạng là nước tăng lực Number 1, chi 5,9 triệu USD, tăng chi phí 170% và nhảy 31 bậc so với năm 2008.

Các nhãn hiệu ngoại tại Việt Nam

Đứng thứ 2 trong bảng xếp hạng Top 15 là nhãn hiệu Best Buy của Mỹ với số tiền chi cho quảng bá lên tới 14,1 triệu USD, tăng tới 149 bậc so với bảng xếp hạng năm 2008. Năm 2009 chứng tỏ sự đầu tư rất lớn của Best Buy tại Việt Nam khi họ quyết định tăng ngân sách lên tới 1.644% so với năm 2008.

Vị trí thứ 5 và thứ 6 thuộc về 2 nhãn hiệu của "đại gia" Unilever là Omo (9,8 triệu USD) và Comfort (8,5 triệu USD. Giữ vị trí số 10 là nhãn hiệu nước xả vải Downy của P&G với con số đầu tư 6,9 triệu USD. Quyết định tăng 117% chi phí cho việc quảng bá nhãn hiệu này đã giúp Downy tăng tới 12 bậc so với năm 2008 trong bảng xếp hạng.

Các vị trí tiếp theo trong bảng xếp hạng thuộc về nhãn hiệu dầu gội Sunsilk (6,8 triệu USD) giữ vị trí thứ 12, nhãn hiệu dầu gội đầu Rejoice giữ vị trí thứ 14 (5,6 triệu USD). Vị trí thứ 15 - vị trí áp chót của Top 15 thuộc về nhãn hiệu hạt nêm Knorr với chi phí 5,2 triệu USD.

Xét toàn diện trong lĩnh vực quảng cáo, Unilever vẫn tiếp tục duy trì ngôi vị số 1 là doanh nghiệp đầu tư chi phí nhiều nhất cho quảng cáo với con số 86,7 triệu USD, tăng 89% ngân sách so với năm 2008.

Quyết định tăng ngân sách quảng cáo lên tới 198% so với năm 2008 đã đưa Tân Hiệp Phát vươn lên chiếm vị trí thứ 2 trong bảng xếp hạng với con số 43,9 triệu USD trong năm 2009. Mặc dù, trong năm 2009 P&G Việt Nam đã tăng tới 83% ngân sách quảng cáo so với năm 2008 nhưng vẫn tụt xuống vị trí thứ 3 trong bảng xếp hạng.

Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực này vẫn còn nghi ngờ về mối tương quan giữa chi phí bỏ ra với sự thành công của nhãn hiệu. Tuy nhine có một điều rõ ràng rằng các nhãn hiệu nằm trong Top 15 này đã thực sự trở thành các nhãn hiệu, thương hiệu quen thuộc của người tiêu dùng Việt Nam.

(Phương Trinh -

Theo Dân Trí)

Share:

Thứ Hai, 1 tháng 10, 2012

Định giá thương hiệu thời hội nhập

unilever-mua-lai-ps-cua-viet-nam"Định giá thương hiệu thời hội nhập" là chủ đề của hội thảo, do Cục Sở hữu Trí tuệ, Bộ KHCN và Tạp chí Thương hiệu Việt tổ chức ngày 18/4/2010, tại TP.HCM.

Chưa có tài liệu khoa học định giá thương hiệu Việt

Ông Hải Đăng, Tổng biên tập Tạp chí Thương Hiệu Việt cho biết, hội thảo nhằm hưởng ứng Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới (26/4/2010) đồng thời cung cấp kiến thức và kinh nghiệm cho doanh nghiệp trong định giá tài sản trí tuệ, đặc biệt là sáng chế và nhãn hiệu, giúp doanh nghiệp xác định giá trị đích thực cho thương hiệu và tài sản trí tuệ của mình trong việc phát triển, kinh doanh, kêu gọi đầu tư, cổ phần hoá, chuyển nhượng thương hiệu…

Theo ông Đăng, thương hiệu là tài sản quan trọng của doanh nghiệp và là niềm tự hào của Quốc Gia và thực tế chúng ta đã chứng kiến trên thế giới từng diễn ra nhiều trường hợp định giá thương hiệu khi doanh nghiệp cổ phần hoá, tham gia thị trường chứng khoán, kêu gọi đầu tư, chuyển nhượng thương hiệu…Tại Việt Nam, nhu cầu định giá thương hiệu đã và đang hình thành, xuất hiện một số đơn vị làm dịch vụ đánh giá thương hiệu, định giá thương hiệu cho doanh nghiệp.

"Trên thị trường hiện cũng có nhiều tài liệu nước ngoài về định giá thương hiệu và trở thành cẩm nang cho các nhà tư vấn, dịch vụ định giá thương hiệu mới thành lập ở Việt Nam. Nhưng thực tế lại chưa có tài liệu nào được nghiên cứu một cách khoa học trên nền tảng của Việt Nam", ông Đăng nói.

Sẽ thiệt thòi nếu không được hạch toán

Theo ông Đăng, cụm từ thương hiệu mới được phổ biến cách đây mấy năm và được giới doanh nhân, các nhà kinh tế học và các nhà quản lý quan tâm. Nhưng tài sản vô hình nói chung hay thương hiệu nói riêng chưa chính thức được công nhận trên các báo cáo tài chính.

Quyết định số 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ Tài chính ban hành chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định chưa quy định thương hiệu là tài sản cố định vô hình nên chưa có cơ sở hướng dẫn hạch toán. Điều này sẽ gây nhiều trở ngại và thiệt thòi cho doanh nghiệp trong quá trình hội nhập, khi việc mua, bán, sáp nhập công ty đã trở nên phổ biến hơn. Nhà nước cũng sẽ bị thất thoát trong quá trình cổ phần doanh nghiệp quốc doanh.

Hiện nay, Việt Nam đang hình thành những thương hiệu nổi tiếng, nhiều thương hiệu đã chứng minh giá trị của mình trong việc chinh phục thị trường. Đã có những trường hợp mua, bán thương hiệu và nhiều hệ thống nhượng quyền. Các chủ nhân đã không tránh khỏi lúng túng, khó khăn trong việc định giá thương hiệu khi có nhu cầu cổ phần hoá hay góp vốn liên doanh bằng chính thương hiệu. Ngay cả thương hiệu được công nhận như tài sản vô hình chính thức cũng sẽ phát sinh nhiều khó khăn và tranh cãi khác quanh công thức, kết quả đánh giá mà doanh nghiệp sử dụng thường mang tính chủ quan.

Định giá nhãn hiệu hay thương hiệu?

Theo ông Trần Nam Long, Phụ trách phòng tư vấn, giám định, Viện Khoa học Sở hữu trí tuệ thì khi định giá doanh nghiệp cần phải xác định rõ định giá thương hiệu hay nhãn hiệu?. Thương hiệu có nhiều định nghĩa: là toàn bộ doanh nghiệp hoặc một phần của doanh nghiệp, là sự kết hợp giữa nhãn hiệu và tên thương mại, là tên viết tắt của doanh nghiệp, có uy tín trên thị trường…

Trong khi đó, nhãn hiệu là bất kỳ một dấu hiệu hoặc sự kết hợp của dấu hiệu có khả năng giúp phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá, dịch vụ của những doanh nghiệp khác. Các dấu hiệu gồm các từ, kể cả tên riêng, chữ cái, chữ số, yếu tố hình và tổ hợp màu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu hàng hoá…

Ông Long dẫn chứng theo Russell Parr và Gordon Smith thì một lỗi thường gặp trong các báo cáo định giá thương hiệu là không chỉ rõ thương hiệu đó là gì, gồm những đối tượng nào, ví dụ nói thương hiệu Coca-Cola được Interbrand định giá 70,45 tỷ USD năm 2003 nhưng trong báo cáo không nói rõ thương hiệu bao gồm những gì: chỉ là những sản phẩm nước ngọt mang nhãn hiệu Coca-Cola hay cả tên thương mại, có bao gồm Sprite, Fanta hay không, có bao gồm Coke, Coca-Cola Diet không…

Ở nước ta, Thông tư 146/2007/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định gián tiếp thương hiệu gồm nhãn hiệu và tên thương mại của doanh nghiệp và tại nhiều cuộc định giá thì thương hiệu được định giá cũng gồm 2 đối tượng này nhưng làm nảy sinh nhiều vấn đề đó là: có 2 thành phần cấu thành "thương hiệu", mỗi thành phần chịu sự điều chỉnh khác nhau của luật pháp nên hoàn toàn có thể coi là những tài sản độc lập và có thể định giá riêng biệt, vậy tại sao phải gộp lại trong khái niệm thương hiệu? Bên cạnh đó, không phải trường hợp nào nhãn hiệu và tên thương mại cũng đi liền nhau. Do vậy việc gắn nhãn hiệu và tên thương mại là không cần thiết và làm phức tạp hoá quá trình định giá…

Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định: " Quyền đối với tên thương mại chỉ được chuyển nhượng cùng với việc chuyển nhượng toàn bộ cơ sở kinh doanh và hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó ". Như vậy, nếu góp vốn liên doanh bằng tên thương mại (cho thuê quyền sử dụng) với tư cách là một loại tài sản độc lập là không hợp pháp… Như vậy, mặc dù được sử dụng rộng rãi nhưng trong từng hoàn cảnh mà thương hiệu lại có nội hàm riêng, dùng để chỉ đối tượng hoặc nhóm đối tượng khác nhau. Chính vì sự linh động, thiếu tính ổn định của khái niệm mà thương hiệu chưa thể coi là đối tượng hoạt động định giá.

Ông Long cũng đã đưa ra một số phương pháp định giá nhãn hiệu được dựa trên chi phí quá khứ, chi phí thay thế, sử dụng cách tiếp cận thị trường chiết khấu dòng tiền, tính toán tham số… Tuy nhiên, mỗi doanh nghiệp có đặc thù khác nhau nên cần chọn cho mình phương pháp định giá phù hợp.

(Thanh Phương -

Theo Pcworld Viet nam)

Share:

Chủ Nhật, 30 tháng 9, 2012

Aston Martin trở thành thương hiệu thú vị nhất tại Anh

Hãng sản xuất xe hơi hạng sang Aston Martin đã một lần nữa giành được ngôi cao nhất của giải thưởng thương hiệu hấp dẫn nhất nước Anh.

aston-martin-logo

Đây là lần thứ 5 trong 6 lần tổ chức gần đây nhất, Aston Martin đã đoạt được danh hiệu King of Cool, một giải thưởng như là thương hiệu thú vị nhất được tổ chức bởi CoolBrands.

Stephen Cheliotis, chủ tịch của Hội đồng chuyên gia CoolBrands cho biết: "Được công nhận như là một Thương hiệu Thú vị bởi cộng đồng người Anh cũng đồng nghĩa với việc đó là thương hiệu mà người Anh muốn sở hữu nhất".

Năm nay, nghệ sỹ âm nhạc Jessie J, DJ Rob da Bank và diễn viên Sadie Frost cũng góp mặt trong Hội đồng CoolBrands bao gồm 36 nhân vật nổi tiếng đến từ các ngành thời trang, truyền hình và âm nhạc.

Danh sách rút gọn của 1.500 thương hiệu đã được xác định từ hơn 10.000 thương hiệu trước đó. Danh sách này sau đó lại được đánh giá để chọn ra 500 cái tên xuất sắc nhất và cuối cùng mới chọn ra 10 thương hiệu hàng đầu do người tiêu dùng kết hợp với Hội đồng CoolBrands bầu chọn.

Dù Apple và Google có những bước tiến vượt bậc trong ngành công nghệ của thế giới nhưng cuối cùng Aston Martin mới là người thắng cuộc. Dù không sánh được với các siêu xe đến từ Italia về khả năng tăng tốc và sức mạnh động cơ nhưng thương hiệu xe gắn liền với hàng loạt phim ăn khách Điệp viên 007 lại ăn đứt ở vẻ gợi cảm, sang trọng và đầy cá tính. Hãng thể thao khổng lồ Nike và nhà sản xuất điện thoại Blackberry cũng có mặt trong danh sách năm nay trong khi hai thương hiệu Lamborghini và Ducati bị văng ra khỏi top 10.

Sáng kiến về giải thưởng CoolBrands được đưa ra lần đầu vào năm 2001 nhằm tìm kiếm thương hiệu có sự cộng hưởng mạnh mẽ nhất với công chúng dựa trên các tiêu chí "Phong cách, Đổi mới, Chính hiệu, Độc đáo và Khát khao sở hữu."

Top 10 thương hiệu thú vị nhất nước Anh năm 2011:

1. Aston Martin

2. Apple

3. Harley-Davidson

4. Rolex

5. Bang & Olufsen

6. BlackBerry

7. Google

8. Ferrari

9. Nike

10. YouTube

(Phương Trinh -

Theo TBKTSG/Inautonews)

Share: