Thứ Bảy, 5 tháng 5, 2012

Những website được truy cập nhiều nhất năm 2011

2 trong số 10 website có lượng truy cập nhiều nhất năm 2011 chính là Google và Facebook . Nhưng thành công nhất vẫn là Google với ba vị trí xếp hạng trong top 15. Vừa qua, Nielsen đã thống kê 10 website được truy cập nhiều nhất trong năm 2011. Kết quả không có nhiều bất ngờ khi Google và Facebook chính là hai website dẫn đầu trong danh sách này. top-website-us-2011

Thống kê mà Nielsen đưa ra là kết quả được khảo sát tại Mỹ. Còn trên toàn thế giới thì kết quả như thế nào? Theo thống kê của Alexa thì dẫn đầu 10 website có lượng truy cập nhiều nhất trong năm qua cũng không phải là trang web nào khác, mà đứng đầu vẫn là Google, tiếp đó là Facebook.

10 trang web có lượng truy cập nhiều nhất năm 2011 tại Mỹ theo khảo sát của Nielsen:

1. Google

2. Facebook

3. Yahoo!

4. MSN/WindowsLive/Bing

5. Youtube

6. Microsoft

7. AOL Media Network

8. Wikipedia

9. Ask Search Network

10. Apple10 trang web có lượng truy cập nhiều nhất năm 2011 được Alexa đưa ra lần lượt như sau:

1. Google

2. Facebook

3. YouTube

4. Yahoo

5. Baidu

6. Wikipedia

7. Windows Live

8. Blogspot

9. Amazon

10. Twitter

Theo thống kê thì lượng truy cập Internet vào các trang web của Trung Quốc cũng tăng lên đáng kể. Ngoài Baidu - gã khổng lồ trong lĩnh vực tìm kiếm được xếp ở vị trí thứ 5 thì ở vị trí thứ 11 trong danh sách này chính là cổng thông tin dịch vụ QQ. Tiếp ngay sau đó là Taobao.com, trang web bán lẻ của Trung Quốc tương tự như Amazon chiếm vị trí xếp hạng thứ 12.

Nhưng. nếu xét về mặt thành công nhất thì vẫn là Google. Trong danh sách những trang web được truy cập nhiều nhất thì Google Ấn Độ đứng ở vị trí thứ 14. Như vậy, cùng với YouTube, Google chiếm tới ba vị trí trong top 15 website được truy cập nhiều nhất trong năm 2011.

- Lâm Anh -

(Thanh Phương -

Theo VTV/Digitaltrends)

Share:

Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2012

Đặc tính vùng miền

Đặc tính tiêu dùng giữa ba miền ở Việt Nam vẫn còn khá nhiều khác biệt, từ nhận biết thương hiệu, đến việc chuộng dịch vụ, kênh mua sắm, giá cả, tác động của quảng cáo...

Thái độ đối với thương hiệu. Người tiêu dùng (NTD) ở miền Nam (TP.HCM, Cần Thơ) thích tìm kiếm những "giá trị cao cấp" trong thương hiệu.

dac-tinh-tieu-dung-vung-mien

Trong khi đó, NTD TP.HCM có xu hướng tin tưởng và dựa trên kinh nghiệm của họ với một thương hiệu. Còn NTD Hà Nội kỹ tính hơn trong lựa chọn và có thể thay đổi ấn tượng trong quá trình mua hàng.

Dịch vụ ưa thích. Những đặc quyền về chăm sóc (khách hàng) được tăng dần từ phía Nam ra Bắc. NTD TP.HCM thích được chăm sóc như một "VIP", 80% cho rằng dịch vụ chăm sóc khách hàng còn quan trọng hơn cả sản phẩm.

Độ nhạy cảm về giá. NTD ở miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long thích mua với số lượng lớn để tiết kiệm. Trái ngược là NTD ở TP.HCM không quan tâm nhiều như các thành phố khác trong kế hoạch chi phí hằng tháng.

Trong khi đó, NTD khu vực miền Trung và Bắc thích thương lượng giá khi mua hàng. Nhưng NTD miền Bắc sẵn sàng trả thêm tiền cho sản phẩm/dịch vụ đó nếu nó độc đáo và duy nhất.

Mua hàng ở chợ? Ngoại trừ khu vực miền Nam (TP.HCM), chợ vẫn là kênh mua sắm phổ biến của người tiêu dùng các vùng khác. Trong đó, TP.HCM: 26%; Hà Nội: 56%; Đà Nẵng: 63%.

Ảnh hưởng của quảng cáo. NTD khu vực miền Nam (TP.HCM) ít mua sản phẩm ăn theo các quảng cáo, trong khi 66% người mua hàng tại khu vực phía Bắc (Hà Nội) cho biết họ mua hàng khi thấy quảng cáo ấn tượng, còn tỷ lệ này là 51% tại Đà Nẵng. Những tấm biển quảng cáo ngoài trời thu hút sự chú ý nhiều hơn ở các thành phố lớn hơn.

Quảng cáo LCD được rất nhiều ủng hộ tại TP.HCM. Quảng cáo với phí bảo hiểm sản phẩm sẽ hiệu quả hơn tại Hà Nội. Quảng cáo hài hước được ưa thích trên toàn thành phố, đặc biệt là TP.HCM. Nhưng một điểm đồng nhất giữa ba miền là NTD Việt Nam đều tin tưởng vào lời giới thiệu từ bạn bè.

Sở thích bao bì sản phẩm. Đa số NTD đều đồng ý bao bì rất quan trọng trong việc đánh giá một sản phẩm chất lượng. Đặc biệt, NTD Cần Thơ sẽ thích những sản phẩm được đóng gói với nhiều màu sắc mát mẻ và hài hòa.

(Thanh Phương -

Theo DNSG/FTA)

Share:

Thứ Năm, 3 tháng 5, 2012

Canh bạc cuối của AOL

ariana-huffington-post-aolMua lại Huffington Post là hy vọng cuối cùng của AOL. Nếu thua canh bạc này, kết cục của AOL sẽ rất thảm hại.

Đầu tuần qua, công ty internet Mỹ AOL cho biết sẽ mua lại trang web tin tức Huffington Post với giá 315 triệu USD, nhằm vực dậy bộ phận nội dung và doanh thu quảng cáo đang sa sút. Điều khiến giới báo chí xôn xao là AOL đã trả giá rất cao, mà theo ước tính của chuyên gia phân tích Clayton Moran của Benchmark Co. (Mỹ), là gấp 32 lần EBITDA (lợi nhuận trước thuế, lãi vay và khấu hao) của trang web này. Moran cho biết, mức giá cho các thương vụ về nội dung tương tự chỉ khoảng 8-12 lần. Còn nếu xét theo doanh thu, cái giá trả cho Huffington Post gấp 10 lần.

Trong khi đó, AOL lại mang tiếng xấu về các thương vụ mua bán và sáp nhập què quặt. AOL đã chấm dứt cuộc hôn nhân với hãng truyền thông Time Warner vào tháng 12.2009 sau 10 năm chung sống. Hãng cũng đã bán rẻ Bebo với giá 10 triệu USD chỉ sau 2 năm mua lại.

Và từ khi Tim Armstrong đảm nhận vị trí Tổng Giám đốc AOL, ông đã tiến hành hàng loạt vụ như mua lại TechCRunch và 5Min Media vào năm ngoái, nhằm đầu tư vào mảng nội dung trực tuyến để thu hút cư dân mạng, vực dậy doanh thu quảng cáo. Tuy nhiên, đến nay AOL chưa có dấu hiệu khởi sắc.

Từng trị giá tới 163 tỉ USD, hiện nay AOL có mức vốn hóa khoảng 2,3 tỉ USD. AOL đã gánh chịu sự suy giảm nghiêm trọng doanh số quảng cáo và dịch vụ truy cập internet trong quý IV/2010, khiến tổng doanh thu giảm 26%, còn 596 triệu USD.

Vậy liệu Huffington Post có thể vực dậy tình hình của AOL? Armstrong đã dùng công thức "1 + 1 = 11" để mô tả lợi ích của thương vụ, cho thấy kỳ vọng của ông vào canh bạc lớn nhất kể từ khi ông lên nắm quyền.

Được thành lập vào năm 2005, Huffington Post chóng lọt vào nhóm 10 trang web tin tức được ưa chuộng nhất tại Mỹ với 25 triệu độc giả mỗi tháng (sau khi sáp nhập, AOL sẽ có 270 triệu độc giả mỗi tháng trên toàn thế giới và 117 triệu độc giả tại Mỹ). Theo tính toán của Giám đốc Tài chính AOL Arthur Minson, Huffington Post dự kiến sẽ tạo ra hơn 50 triệu USD doanh thu năm 2011 và khoảng 100 triệu USD trong năm tiếp theo với biên lợi nhuận 30%.

Giới phân tích công nghệ cho rằng, AOL có thể thắng trong canh bạc này, nhưng chỉ khi số lượng độc giả của Huffington Post tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao như họ đã làm trong 5 năm qua.

Ian Maude, đứng đầu bộ phận internet tại Enders Analysis, nhận định: "Cái giá mua lại Huffington Post quá cao, nhưng nếu trang tin này tiếp tục tăng mạnh lượng độc giả, AOL sẽ có thể hái ra tiền và tăng doanh thu quảng cáo. Thương vụ này có thể mang lại lợi ích cho AOL vì Hãng đang tập trung phát triển doanh thu quảng cáo hiển thị, đặc biệt tại thị trường Mỹ, nơi Huffington Post được nhiều người biết đến nhất".

Chìa khóa mà ông Armstrong tin rằng sẽ giúp Huffington Post duy trì phong độ hiện có sau khi sáp nhập là sự có mặt của bà Arianna Huffington, đồng sáng lập Huffington Post, trong ban điều hành mảng nội dung của AOL. Bà Arianna được cho là lý do chính đằng sau việc AOL trả giá cao mua lại Hufffington Post. Một điều kiện lớn của thương vụ là bà phải nắm vai trò điều hành Huffing Post cũng như bộ phận nội dung của AOL, trong đó có các trang web công nghệ nổi tiếng Endgadget và TechCrunch, trang web tin tức trong nước Patch.com và dịch vụ bản đồ trực tuyến Mapquest.

"Cái giá cao mà AOL trả cho Huffington Post thực sự là chi phí tuyển dụng để có được bà Arianna", chuyên gia phân tích công nghệ Rob Enderle nhận định. Nói cách khác, bà là hy vọng của Armstrong trong việc đưa AOL trở lại đường đua.

- Bảo Châu -

(Phương Trinh -

Theo NCĐT/AP, Reuters, Telegraph và Bloomberg)

Share:

Thứ Tư, 2 tháng 5, 2012

Groupon sẽ thành thương hiệu mạnh nhất thế kỷ 21?

groupon-collective-buying-powerGroupon đã giải mã được mô hình thương mại và quảng cáo địa phương và có thể trở thành một trong những thương hiệu mạnh nhất trong thế kỷ 21.

Thương mại xã hội: lợi cả... 3 đường

Andrew Mason từng bật mí anh còn có những ý tưởng hay hơn cả Groupon. Vì sao ư? "Đối với tôi, cũng như với bất kỳ ai đam mê với các ý tưởng, thì Groupon chỉ là một ý tưởng rất nhỏ bé. Và tôi cũng đã có những ý tưởng hay hơn, mới mẻ hơn".

Có thể là như thế, nhưng có vẻ như Groupon đã kiếm được những khoản tiền không nhỏ từ hình thức kinh doanh mới mẻ của nó. Và các đối thủ như LivingSocial cũng có phần, khi các nhà đầu tư đổ xô vào để chiếm được một mẩu trong cái phân khúc gọi là thương mại xã hội, giống như đàn cá ngừ nhảy lên đớp lấy vệt mỡ trên mặt nước.

Theo đánh giá của Needham & Co- Công ty đầu tư ngân hàng, đây là phân đoạn tăng trưởng rất mạnh trong năm qua, khoảng 200%. Groupon được xem là thủ lĩnh trong phân khúc, với số thành viên lên đến 50 triệu và hiện đang tăng thêm trung bình 3 triệu thành viên/ 1 tháng. Groupon đưa ra ưu đãi cho các thành viên là giảm giá các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, nhưng với điều kiện phải có thật nhiều người cùng thực hiện các giao dịch được gửi tới e-mail của họ. Tý lệ chiết khấu có thể lên đến 90% đối với các sản phẩm và dịch vụ như nước rửa xe ô tô, những bữa ăn ở nhà hàng, lớp học nấu ăn, dịch vụ chăm sóc răng, hay là bất cứ sản phẩm nào có ở 500 thành phố và 35 Quốc Gia Groupon có mặt.

Thương mại xã hội - hình thức kinh doanh hấp dẫn mới trên nền Web, mang lại lợi ích cho cả ba bên: Khách hàng chi trả ở mức giá thấp hơn; người làm kinh doanh có cơ hội tăng doanh thu và có thêm khách hàng tiềm năng mới; và Groupon thì thu được phí từ chiết khấu của nhà cung cấp sản phẩm. James Slavet, đối tác của Greylock Partners- một công ty đầu tư vốn ở thung lũng Silicon và cũng là nhà đầu tư của Groupon cho biết, " Groupon đã giải mã được mô hình thương mại và quảng cáo địa phương. Về lâu về dài, hình thức kinh doanh này sẽ có hiệu quả trong quá trình bán lẻ những sản phẩm của Google và tìm kiếm quảng cáo ".

Google của tương lai hay thương hiệu mạnh nhất thế kỷ 21?

Groupon có phải một Google tương lai? Thật quá ngạc nhiên khi Google không ngần ngại đưa ra đề nghị mua Groupon với giá 6 tỷ đô la vào tháng 9 năm ngoái. Và còn ngạc nhiên hơn nữa khi Mason và các đồng sự từ chối lời đề nghị hấp dẫn đó. Mason nói, " Chúng tôi có rất nhiều lựa chọn. Mỗi quyết định của chúng tôi đều bắt nguồn từ nguyên tắc tạo dựng một công ty có thể thay đổi cách thức người ta vấn mua bán tại địa phương. Chúng tôi có thể trở thành một trong những thương hiệu mạnh nhất trong thế kỷ 21 ".

Mason, 30 tuổi, nhạc sỹ, lập trình viên, nhà hoạch định chính sách, nhà hoạt động xã hội, nhưng lại có tài năng trong lĩnh thương mại Web hơn. Tại trụ sở công ty ở Chicago, anh cho bày những trang tạp chí viết về thất bại của Friendster, Napster, Pets.com bên cạnh chính hình ảnh của mình trên tạp chí Forbes. " Tôi suy ngẫm rất nhiều về những công ty này và sai lầm mà họ mắc phải. Và trong hầu hết các trường hợp, không phải do bị đối thủ đánh bại mà chính họ tự đem thất bại đến cho mình. Nếu so sánh với Myspace thì Facebook là sản phẩm tôt hơn nhiều. Chỉ đơn giản vậy thôi ".

groupon

Mason nhận thức được tất cả những gì sẽ dẫn đến thất bại. Chuyên ngành chính của anh là âm nhạc ở Đại Học Northwestern, và anh đã từng làm việc cho một cửa hàng thu băng ở Chicago. Tuy nhiên, anh sớm nhận ra rằng anh giỏi hơn trong lĩnh vực lập trình máy tính và có thể kiếm được nhiều hơn trong lĩnh vực này. Đến năm 2006, anh chuyển sang học khóa sau đại học về chính sách công ở trường ĐH Chicago, đồng thời học qua về Internet.

Sau 3 tháng mày mò học tập, Mason được Eric Lefkofsky tài trợ 1 triệu đôla để phát triển ý tưởng mang tên The Point. Ý tưởng của The Point là có thể quy tụ mọi người vào các hoạt động xã hội tập thể như diễu hành, biểu tình, những ngày được nghỉ làm, vv. Không lâu sau, cả Mason và Lefkofsky đều nhận ra rằng mua sắm mang lại nhiều lợi nhuận hơn hoạt động xã hội. Đến cuối năm 2008, Groupon chính thức đi vào hoạt động. Nó hoạt động trong mọi lĩnh vực và mang lại thành công bất ngờ. Chỉ trong 1 năm, Groupon đã có 1 triệu thành viên. Thương nhân ở Chicago và cả các thành phố và bang lân cận đều đăng ký để trở thành thành viên của trang web.

Groupon: siêu tăng trưởng bình phương

Các nhà đầu tư theo dõi rất kỹ lưỡng tình hình tài chính của Groupon. Doanh số ban đầu từ con số 0 đã lên tới 500 triệu đôla trong vòng 18 tháng. Chưa từng có doanh nghiệp nào tăng trưởng nhanh đến vậy. Quan trọng hơn, Groupon là mô hình có khả năng mở rộng cực lớn, nghĩa là Groupon hoàn toàn có thể phát triển ra toàn cầu. Đến thời điểm hiện tại, Groupon đã có mặt ở 35 quốc gia, gần đây mới xuất hiện ở Philippines, Singapore, Đài Loan và Hong Kong. Theo ông Lefkofsky, " Groupon không giống với bất kỳ khuôn mẫu nào trước đó. Tôi đã làm việc trong những công ty công nghệ tăng trưởng cao. Tôi đã từng nghĩ tôi đã được thấy cái gọi là siêu tăng trưởng, nhưng trường hợp của Groupon thì phải gọi là siêu tăng trưởng bình phương ".

Tất cả những gì Mason học được đều giúp anh có được khả năng lãnh đạo tuyệt vời như ngày hôm nay. Cái bằng về âm nhạc- tưởng chừng vô dụng trong lĩnh vực mới, lại tỏ ra khá hữu ích. "Sự ngốc nghếch" là nguyên tắc cốt lõi Dòng nhân viên mới vẫn tiếp tục chảy về, chỉ riêng Chicago đã có thêm từ 150 đến 200 nhân viên mỗi tháng. Tuy nhiên, ở mỗi tầng văn phòng, Mason đều cho xây dựng một không gian giống như phòng ngủ của một nam sinh, dành cho những nhân viên có trí tưởng tượng. Anh cũng đầu tư cho mỗi nhân viên 1 quả bóng luyện tập màu xanh để ngồi trên đó, vì vậy vẳn phòng trông chẳng khác một nơi thư giãn của những con người vô tư lự.

Tuy nhiên, khiếu hài hước của Mason đã mang lại phản ứng ngược. Một trong những ngôi sao điện ảnh trên kênh quảng cáo của Groupon đã hóm hỉnh nói về Tây Tạng như một lý tưởng chính trị trước khi đưa ra thông điệp sản phẩm: " Nhân dân Tây Tạng đang gặp khó khăn...nhưng họ vẫn nỗ lực tiến lên với món cà ri cá của mình. Và cứ mỗi 200 người chúng ta mua món ăn này qua Groupon.com, mỗi người sẽ có thể thưởng thức món ăn Tây Tạng trị giá 30 đôla chỉ với 15 đôla ". Các nhà phê bình rất xem thường cách tiếp cận đó, nhưng có hề gì?

Bởi lẽ, đúng như với tôn chỉ của nhà hoạt động xã hội, Groupon của Mason đã dành một link trong trang web để tài trợ cho Quỹ Tây Tạng - một tổ chức từ thiện giúp đỡ những người Tây Tạng tha hương.

- Lơ Nguyễn -

(Tuấn Anh -

Theo Vef.vn/The Time)

Share:

Thứ Ba, 1 tháng 5, 2012

10 thương hiệu bị “thất sủng” ở Mỹ

dellNgười Mỹ không dành sự ưu ái của mình cho các nhãn hàng chỉ vì đó là "con cưng" do nội địa sản xuất, họ yêu quý và trung thành với tiện ích của chính bản thân mình. Khi tiện ích của bản thân không được đáp ứng, các thương hiệu cũng lần lượt bị cho vào dĩ vãng.

Thói quen trung thành với một nhãn hiệu nào đó được bồi đắp nên từ ý thích chủ quan cũng như sự cân nhắc thực dụng. Có được sự đồng thuận của hai yếu tố đó từ người tiêu dùng, một thương hiệu mới vững vàng tồn tại lâu dài. Gần như bắt buộc, nó phải luôn tự làm mới mình, phải "tiến hóa" để luôn theo sát những đối tượng quan trọng mà nó hướng tới. Làm thế nào để dung hòa thật hoàn hảo giữa thiết kế mẫu mã, giá thành, tính năng mà vẫn hợp thời - thực sự vừa là một môn nghệ thuật, vừa là một ngành khoa học cần nghiên cứu tỉ mỉ, công phu.

Từ danh sách các thương hiệu nổi tiếng của Thời báo Wall Street, chúng tôi chọn ra sau đây những nhãn hàng đã bị "thất sủng" mà người Mỹ từng một thời yêu chuộng.

1. Chrysler

Thành lập năm 1925, Chrysler từng là một trong những hãng sản xuất ô tô thành công bậc nhất. Từ bờ vực phá sản hồi năm 1979, tập đoàn trở lại tái cấu trúc vào năm 2008. Thành tích vực dậy công ty thuộc về Lee Iacocca, và câu chuyện kỳ diệu hồi sinh từ đống đổ nát vẫn còn được nhắc lại nhiều trong hàng thập kỷ trở lại đây.

Chrysler đã mất ít nhiều tính nhất quán thương hiệu khi hợp nhất với Daimler (Đức) năm 1998 và nằm hoàn toàn dưới sự điều hành của Daimler. Năm đó, thị phần của Chrysler trên thị trường Hoa Kỳ chỉ chiếm 17%, với doanh số 2.6 triệu ô tô bán ra. Thậm chí doanh số bán hàng năm nay theo dự đoán có thể còn không đạt tới được mốc 1 triệu chiếc. Số phận Chrysler hiện nay lại tiếp tục nằm trong tay một tập đoàn nước ngoài khác- Fiat.

2. Dell

Nỗ lực của Dell trong công cuộc phổ cập sử dụng máy tính cá nhân vào đời sống là không thể phủ nhận. Dell thành lập năm 1984 bởi doanh nhân trẻ Michael Dell. Ông cũng là giám đốc điều hành trẻ nhất từ trước đến nay trong danh sách Fortune 500. Năm 1998, giá trị vốn hóa thị trường của Dell đạt 80 tỷ USD. Dell đã từng làm nên một cuộc cách mạng trong nền công nghiệp máy tính cá nhân khi cho phép giao dịch mua hàng qua Internet.

Kinh doanh của Dell sụt giảm trong khoảng năm 2006 đến 2007, bởi sự chậm chạp, ít cải tiến sản phẩm và sự phát triển mạnh mẽ của mạng lưới dịch vụ bán lẻ máy tính qua mạng. Hiện nay, HP đã "vượt mặt" Dell để chiếm thị phần lớn nhất tại thị trường PC.

Những tin đồn cáo buộc Dell bán máy tính bị lỗi linh kiện dù đã được cảnh báo trước và một số cuộc điều tra liên bang tiến hành trong nội bộ hoạt động khiến danh tiếng của Dell bị tổn thương nghiêm trọng.

3. Kmart

Những cửa hàng đầu tiên của Kmart ra đời năm 1897. Đến giữa thế kỷ XX, chuỗi siêu thị Kmart thực sự bắt đầu kỷ nguyên huy hoàng của mình khi trở thành một trong những nhà phân phối hàng đầu tại Hoa Kỳ dựa trên doanh số và số chi nhánh. Tập đoàn vẫn duy trì được tốc độ phát triển trong suốt những năm 70, 80, 90 - dù sức cạnh tranh từ hàng loạt các nhãn hiệu mới ra đời ngày càng gay gắt.

Tuy vậy, Kmart đã thất bại khi tiến hành đổi mới và không thu hút được vốn đầu tư. Số liệu bán hàng của các chi nhánh đại diện cho thấy sự sụt giảm đáng kể. Kmart tuyên bố phá sản năm 2002, sau đó được mua lại và hợp nhất với Sears. Dưới sự điều hành yếu kém, với hàng loạt biến đổi cách điệu đến mức vứt bỏ cả cá tính riêng và sức ép dữ dội từ "ông lớn" Wal-Mart, "người khổng lồ" đầy quyền lực của Hoa Kỳ Kmart cuối cùng đành chấp nhận ngậm ngùi nhường lại vị trí số 1.

4. Firestone

Thành lập năm 1900, Firestone là một trong những hãng sản xuất lốp xe hàng đầu thế giới. Firestone độc quyền cung cấp lốp xe cho Ford Motor. Nhà vô địch đường đua Indianapolis 500 năm 1911 sử dụng lốp xe Firestone. Tất cả các xe đua từng chiến thắng trong các giải đấu từ năm 1920 đến năm 1966 đều chạy trên lốp xe của hãng. Firestone cũng từng cung cấp vũ khí quốc phòng cho chính phủ Mỹ trong Thế chiến II. Đến giữa thế kỷ XX, Firestone đã đứng vững vàng ở vị trí thứ 2 trong nền công nghiệp sản xuất lốp xe ô tô, chỉ sau Goodyear.

Hàng loạt những tai nạn xảy ra sau đó do sai sót trên sản phẩm đã kéo theo chuỗi kiện tụng, án phạt dai dẳng và sự trượt dốc thê thảm. Thậm chí, công ty lún sâu vào khó khăn tài chính tới mức buộc phải chuyển nhượng cho "ông lớn" Bridgestone của Nhật. Từ đó, chi nhánh tại Mỹ của Bridgestone được biết đến dưới cái tên Bridgestone Firestone. Tuy nhiên, thương hiệu Mỹ lẫy lừng một thời Firestone ngày càng ít được nhắc đến trong nhiều thập niên trở lại đây.

5. Tạp chí Time

Thành lập năm 1923 bởi hai cựu sinh viên Đại học Yale, Time nhanh chóng trở thành thời báo tin tức lớn nhất thế giới, với quy mô "phủ sóng" trên hầu khắp toàn cầu. Doanh số phát hành trong những năm cuối thập niên 90 chạm mốc 4.2 triệu bản. Giải thưởng "Nhân vật của năm" do Time bình chọn là một trong những sự kiện truyền thông được mong đợi nhất hàng năm. Time sở hữu một trong những hệ thống dây chuyền biên tập quy mô nhất thế giới.

Hiện tại tổng số phát hành của Time đã sụt giảm còn 3.25 triệu bản. Trong một thế giới đầy ắp các sự kiện nóng hổi diễn ra từng giây, đây là khó khăn chung của các tạp chí tin tức. Đối thủ trước kia của Time, US News thậm chí không còn khả năng xuất bản đều kỳ. Newsweek sang tay một chủ nhân mới chỉ với 1 USD (!) hồi năm ngoái. Thương hiệu Time đang chịu sự cạnh tranh khốc liệt từ các kênh tin tức truyền hình và website - nơi có thể cập nhật tin nhanh hoàn toàn miễn phí.

6. Timex

Timex được sáng lập bởi Tập đoàn Waterbury Clock, công ty tiên phong trong kinh doanh đồng hồ đeo tay. Sản xuất ngày càng được cải tiến và có hiệu quả rất cao, trong khi giá thành nguyên liệu giảm - tạo điều kiện cho sự ra mắt của nhãn hiệu đồng hồ giá rẻ Timex năm 1950. Nửa đầu những năm 60, Timex chiếm thị phần lớn nhất trong ngành sản xuất đồng hồ đeo tay: cứ 3 cái bán ra thì 1 mang hiệu Timex.

Sự ra đời của đồng hồ số, đồng hồ thạch anh với độ bền cao và đặc biệt hữu dụng giữa thập niên 70 hầu như lập tức "hạ bệ" Timex.

7. Maxwell House Coffee

Thương hiệu café Maxwell House ra đời năm 1982 và thống lĩnh ngành café Hoa Kỳ trong suốt thế kỷ XX. Khẩu hiệu "Thơm ngon đến giọt cuối cùng" ( "Good To The Last Drop" ) từng nổi tiếng và phổ biến trên toàn thế giới.

Sự suy sụp của Maxwell bắt đầu khi gặp phải sự cạnh tranh từ những nhãn hiệu café giá thành thấp hơn như Eight O'Clock và xu hướng thay đổi sở thích của người tiêu dùng sang sản phẩm hạt café cao cấp và máy pha chế tại chỗ của Nespresso. Maxwell House cũng hứng chịu đòn tấn công mãnh liệt từ chuỗi cửa hàng Starbucks và, đáng ngạc nhiên hơn, từ cả McDonald's.

8. Reebok

Giày Reebok từng đồng hành thân thiết với đời sống của người Mỹ, giống như Nike đang làm được hiện tại. Nhà sáng lập Reebok, J W Foster xuất thân từ gia đình giàu truyền thống: ông là cháu trai của một nhà sản xuất giày nổi tiếng. Những năm 1980, Reebok đứng trong top sản xuất và tiêu thụ giày thể thao tại Hoa Kỳ, và là nhãn hiệu giày đầu tiên ra mắt dòng sản phẩm giày thể thao thiết kế dành riêng cho phụ nữ. Reebok phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng năm 1985 và trở thành công ty cổ phần hữu hạn.

Thương hiệu nổi tiếng nhờ nhiều ngôi sao vận động viên, nghệ sĩ, ca sĩ làm gương mặt đại diện cho từng dòng giày. Do vậy, tổng chi phí sản xuất nói chung và marketing nói riêng đội lên cao chóng mặt, cao hơn tất thảy các hiệu giày thể thao khác. Reebok được sát nhập vào Adidas năm 2006, gần như là đặt dấu chấm hết khi hầu như tất cả sản phẩm của Reebok đều bị đổi tên thành Adidas.

9. Merrill Lynch

Ra đời năm 1914, nhà sáng lập Charles Merrill. Khởi đầu là công ty tư vấn đầu tư, Merrill Lynch tiến hành liên doanh với rất nhiều công ty khác và trở thành tập đoàn tài chính lớn nhất thế giới ngay trước Thế chiến II. Trong thời gian diễn ra chiến tranh, Merrill Lynch cũng kiêm luôn vị trí số 1 trong ngành bảo hiểm và an ninh Mỹ. Đến cuối thế kỷ 20, Merrill Lynch có trong tay 15,000 nhà môi giới chứng khoán -con số đáng nể lớn hơn bất kỳ công ty tài chính nào khác.

Danh tiếng và sự ổn định của tập đoàn gần như sụp đổ khi Merrill Lynch dấn sâu vào cuộc khủng hoảng đầu tư vào các ngân hàng cho vay thế chấp bất động sản dưới chuẩn và dính líu tới vụ lùm xùm phát hành trái phiếu thế chấp CDO. Tập đoàn bị tổn thương tài chính nghiêm trọng đến mức phải nhượng lại cho Ngân hàng Bank of America hồi năm 2008 để thoát khỏi nguy cơ phá sản. Thời hoàng kim thực sự chỉ là quá khứ, ngày nay Merrill Lynch chỉ là một bộ phận nhỏ trực thuộc Bank of America.

10. MySpace

Ra mắt năm 2003, Myspace là Mạng xã hội lớn nhất thế giới khi trị giá chuyển nhượng cho Tập đoàn News năm 2005 là 580,000 USD. Trong năm đó, MySpace ký kết hợp đồng quảng cáo 900 triệu USD với Google và đạt 100 triệu người sử dụng.

Mạng xã hội lớn thứ hai Facebook gần đây đã tiến một bước dài khi phát triển nhiều tính năng, giúp giao diện và quá trình sử dụng trở nên đơn giản hơn, hiệu quả tương tác tăng cao. MySpace đã chậm chân hơn trong việc bổ sung các tính năng tương tự vào giao diện của mình, vô hình chung dâng lợi thế và vị trí số 1 cho thế lực đang mạnh thêm từng phút Facebook.

- Diệu Anh -

(Thanh Phương -

Theo Vef/ WSJ )

Share:

Thứ Hai, 30 tháng 4, 2012

Bán lẻ điện thoại di động: Không còn dễ ăn!

Chỉ mục bài viết

Bán lẻ điện thoại di động: Không còn dễ ăn!

Trang 2

Trang 3

Tất cả các trang

1 of 3

didongSự xuất hiện hàng loạt hệ thống bán lẻ điện thoại di động lớn, nhỏ trong hơn 5 năm qua đã cho thấy sức hút của thị trường này. Tuy nhiên, hiện nay, các nhà bán lẻ chính hãng đang đối mặt với nhiều rào cản, trong đó có sự phá bĩnh của những "kẻ không chính thống". Và đã có một số dấu hiệu cho thấy, thị trường bán lẻ điện thoại di động sẽ không còn dễ ăn trong những năm tới.

Năm 2004, trước khi mở cửa hàng đầu tiên, hệ thống bán lẻ Thế Giới Di Động đã thành lập trang web với các chi tiết giá cả và thông số kỹ thuật của điện thoại mà họ bán. Hình thức thương mại điện tử này dù còn sơ khai nhưng rất hút khách bởi sự mới mẻ của nó. Khách mua hàng chỉ cần nhập số điện thoại và trong vòng 30 phút, nhân viên Công ty sẽ gọi lại, xác nhận đơn đặt hàng, tiến hành giao hàng và thu tiền. Phương thức này đã góp phần nâng cao độ nhận biết của người tiêu dùng về thương hiệu. Hiện nay, Thế Giới Di Động đã có tổng cộng 84 trung tâm (siêu thị) bán lẻ điện thoại di động trên cả nước.

Về thực chất, lĩnh vực bán lẻ điện thoại di động đã hình thành từ rất lâu. Năm 1996, trung tâm kinh doanh điện thoại di động của FPT (FMB) ra đời, phân phối sản phẩm của các hãng như Alcatel, Siemens, Ericsson và Samsung. Đến năm 2007, FMB có khoảng 300 nhân viên với doanh thu hơn 200 triệu USD. Năm 2009, FMB sáp nhập với 2 công ty thành viên khác của FPT là FDC (Công ty Phân phối FPT) và FRT (Công ty Bán lẻ FPT) để trở thành Tổng Công ty Phân phối FPT (mảng phân phối của FPT năm 2010 đạt gần 700 triệu USD).

Cũng trong năm 1996, siêu thị chuyên doanh điện thoại di động Viễn Thông A ra đời. Ông Huỳnh Nhân Quí, Giám đốc Nghiên cứu Thị trường Công ty Viễn Thông A, cho biết, hệ thống đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm từ 20-50%. Riêng năm 2010, mức tăng trưởng là 20% với gần 70 trung tâm bán lẻ. Theo một nguồn tin thân cận, hệ thống này đã bán ra xấp xỉ 800.000 chiếc điện thoại năm 2010. Nếu tính bình quân 3 triệu đồng mỗi chiếc điện thoại bán ra thì doanh thu của Công ty ước đạt khoảng 2.400 tỉ đồng.

Hơn nửa thập kỷ chạy đua

Thị trường bán lẻ điện thoại di động thực ra chỉ bắt đầu sôi động trong 5 năm trở lại đây do nhu cầu tiêu dùng tăng cao. Theo thống kê của Công ty Nghiên cứu Thị trường IDC (Mỹ), năm 2010, đã có 19 triệu chiếc điện thoại di động được bán ra tại Việt Nam, gấp 5 lần năm 2004. Doanh số toàn thị trường năm 2010 vào khoảng 1,2 tỉ USD, tăng 35% so với cách đó 5 năm.

Xuất phát điểm cho nửa thập kỷ tăng nóng là sự kiện Thế Giới Di Động ra đời vào năm 2004 và tăng trưởng mạnh mẽ cho đến nay. Theo nhà quản lý một trung tâm Thế Giới Di động (không muốn nêu tên) tại quận Tân Bình (TP.HCM), trung tâm này bán ra khoảng 90 chiếc điện thoại di động (cả cũ lẫn mới) mỗi ngày. Trong đó, 60% là các dòng máy có giá bán khoảng 2-3 triệu đồng, 30% là các dòng từ 3-5 triệu đồng và 10% thuộc về các sản phẩm cao cấp từ 5 đến mười mấy triệu đồng.

Tính ra, trung tâm trên đạt doanh thu trung bình khoảng 234 triệu đồng/ngày, tức 85 tỉ đồng/năm. Nhà quản lý của trung tâm này cho biết thêm, trung tâm của anh được xếp vào nhóm siêu thị loại 1 của hệ thống Thế Giới Di Động (nhóm trung tâm bán xấp xỉ 80 chiếc/ngày). Thế Giới Di Động có 8 trung tâm loại 1 trong số 84 trung tâm trên cả nước. Như vậy, tổng doanh thu của hệ thống Thế Giới Di Động ước tính đạt hơn 7.000 tỉ đồng/năm, trong khi doanh thu của Co.op Mart, chuỗi siêu thị bán lẻ thực phẩm và hàng tiêu dùng lớn tại Việt Nam, cũng chỉ vào khoảng 11.500 tỉ đồng năm 2010 tính trên tổng số 55 siêu thị.

Trong bảng đánh giá các khoản đầu tư của Công ty Quản lý Quỹ Mekong Capital, tính đến cuối 2009, Thế Giới Di Động có Gross IRR (tỉ suất hoàn vốn nội bộ của một khoản đầu tư chưa trừ các mức phí và chi phí quản lý) lên tới 66,6%, cao hơn 18 công ty khác thuộc các lĩnh vực như tiêu dùng, công nghiệp nhẹ, xuất khẩu mà quỹ này đầu tư vào (Mekong Capital rót vốn vào Thế Giới Di Động năm 2007).

Khi Thế Giới Di Động nhảy vào thị trường, lập tức Phước Lập Mobile cũng tham gia (3.2004) và đến nay đã có 21 trung tâm bán lẻ. Đến năm 2006, Viettel cũng góp mặt (hiện có 80 trung tâm bán lẻ, 600 cửa hàng nhỏ đa dịch vụ) và sau đó là FPT. Ngay cả những công ty lớn trong các lĩnh vực khác cũng không cưỡng lại được sức hút của thị trường này, như trường hợp của Petrosetco, thành viên của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam. Công ty đã lấn sân vào năm 2007, trở thành nhà phân phối của Nokia bên cạnh nhà phân phối FPT và Lucky.

Prev - Next >>

Chủ Nhật, 29 tháng 4, 2012

Tại sao Nokia “loạng choạng”?

Nokia-khung-hoangCông nghệ không phải là nguyên nhân chính khiến Nokia rơi vào khủng hoảng như hiện nay. Lỗi không thuộc về các kỹ sư và nhà thiết kế vì công ty này vẫn luôn đổi mới công nghệ. Vậy thì tại sao giờ đây Nokia lại đứng thứ nhì sau bao năm dẫn đầu thị trường?

Câu trả lời rất đơn giản: Nokia không chú trọng tới thị trường Mỹ. Họ chỉ cố gắng duy trì sự thống trị ở châu Âu và dẫn đầu thị trường châu Á. Còn thị trường những nước giàu có nhất thế giới là ưu tiên số ba của người khổng lồ Phần Lan này.

Tuy mới xuất hiện trên thị trường 5 năm, nhưng sự đột phá của iPhone (sản phẩm của Apple ) và Android (sản phẩm của Google ) cho thấy Nokia đã có một chiến lược sai lầm. Hãy nhìn vào các con số: từ 2009 - 2010, thị phần điện thoại thông minh của Nokia trên toàn cầu giảm từ 47% xuống 38%.

Con số này ở thị trường Bắc Mỹ còn tệ hơn, giảm từ 3,5% xuống dưới 3%. Trong khi ở Mỹ, Nokia chỉ chiếm 7% thị phần. Hiện iPhone chiếm 16% thị phần điện thoại thông minh toàn cầu, trong khi Android tăng từ 4% năm 2009 lên gần 23% năm 2010. Tại thị trường Mỹ, hai hãng này chiếm lần lượt 24% và 39%.

Mặc dù không thể phủ nhận Trung Quốc, Ấn Độ và Mỹ La tinh là những thị trường lớn và rất tiềm năng, nhưng sẽ là sai lầm nếu bỏ qua thị trường Mỹ. Nokia không muốn hoặc không có khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường Mỹ và hình ảnh về một hãng điện thoại dẫn đầu cả kỹ thuật lẫn thị phần đã ngày càng mờ nhạt tại đất nước này.

Nokia đã sai lầm khi tách khỏi thị trường Mỹ, cũng có nghĩa họ không có nhiều cơ hội học hỏi và cọ xát với những nhà sáng tạo công nghệ hàng đầu khác. Sự tự tin của Nokia chẳng khác nào sự kiêu ngạo. Có thể trong thời gian tới, chiến lược của Nokia sẽ thay đổi vì giám đốc điều hành mới là người Bắc Mỹ.

Hợp đồng mới của Nokia với Microsoft cũng có thể là điểm khởi đầu cho một sự thay đổi cần phải có. Nhưng bài học lớn ở đây vượt qua khỏi những gì liên quan đến công nghệ và địa lý. Muốn trở thành người đi đầu bạn phải tham gia vào thị trường có tính cạnh tranh thực sự. Nokia đã bỏ qua thị trường giàu có, vì họ nghĩ có thể làm tốt ở những nơi khác.

Người khổng lồ Phần Lan cần phải tôn trọng một thực tế: mặc dù sự sáng tạo có thể thực hiện ở bất cứ nơi đâu, nhưng vẫn nên phát triển từ nơi mà những nhà công nghệ hàng đầu như Google, Apple, Facebook đã gầy dựng và phát triển sự nghiệp. Hầu như từ trước tới nay, những người giành thắng lợi trên quy mô toàn cầu đều là những người giành thắng lợi ở thị trường Mỹ trước đó.

- Nguyễn Văn Tây -

(Thanh Phương -

Theo Doanh nhân Sài Gòn/ Havard Business Review )

Share: