Thứ Tư, 7 tháng 11, 2012

Ba nhà mạng VN bị Apple qua mặt

iphone-legoNgày 17-3, hai nhà mạng Viettel và VinaPhone cho biết sẽ chính thức phân phối điện thoại Apple iPhone tại thị trường Việt Nam từ ngày 26-3 và cả hai đều đưa ra mức giá sốc đối với sản phẩm này.

Kế hoạch "nóng"

Cụ thể, Viettel tuyên bố người tiêu dùng có thể sở hữu máy iPhone với chi phí thực tế từ mức 0 đồng. Trong khi đó giá bán iPhone của VinaPhone có thể chỉ ở mức 4 triệu đồng.

Phía Viettel khẳng định sẽ cung cấp cả 3 loại máy là iPhone 3G-8G, iPhone 3GS-16GB và iPhone 3GS-32GB gồm cả 2 phiên bản quốc tế và phiên bản khóa mạng tại 28 siêu thị Viettel tại 25 tỉnh, thành trên cả nước. Tất cả các máy iPhone đều được hưởng chế độ bảo hành chính hãng 12 tháng.

Viettel đưa ra 5 hình thức bán hàng gồm 1 hình thức bán giá không cam kết và 4 hình thức bán iPhone cam kết với nhiều ưu đãi linh hoạt để khách hàng lựa chọn. Theo đó, với mức mua iPhone cam kết với nhà mạng này, người tiêu dùng có thể sở hữu máy iPhone với chi phí thực tế từ mức 0 đồng.

Trong khi đó, nguồn tin từ VinaPhone cho biết nhà mạng này sẽ bán iPhone 3GS phiên bản quốc tế gồm hai loại dung lượng 16GB, 32GB và iPhone 3G loại 8GB với giá hấp dẫn kèm theo các gói cước trả sau và trả trước.

Theo phương thức bán của VinaPhone dự tính, khách hàng mua cam kết có thể mua máy chính hãng với giá chỉ 4 triệu đồng. Tuy nhiên, cả VinaPhone cũng như Viettel đều chưa tiết lộ chi tiết giá bán hàng của mình.

Theo VinaPhone, khách hàng đăng ký các gói cước bán kèm iPhone cũng sẽ được ưu đãi giá khoảng 45% so với đơn giá thông thường, được miễn phí hàng trăm phút cước cuộc gọi và được sử dụng dịch vụ Internet băng rộng 3G không giới hạn.

iphone3g

VinaPhone sẽ bán điện thoại di động iPhone 3G-S tại 25 cửa hàng tại Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng và một số tỉnh khác trên toàn quốc từ ngày 26-3. Sản phẩm này sẽ được hưởng chế độ bảo hành quốc tế trong 12 tháng.

iPhone 3GS là dòng máy điện thoại có tốc độ nhanh nhất, cấu hình mạnh mẽ được thiết kế dựa trên nền tảng của iPhone 3G có bổ sung thêm một số tính năng như tốc độ cao gấp đôi so với phiên bản iPhone 3G, đặc biệt nhanh trong việc đọc file đính kèm, xử lý email và tốc độ truy cập Interrnet, tuổi thọ pin lâu hơn.

Apple cũng cho nâng cấp camera chụp hình của iPhone từ 2.0 MGPX lên 3.0 Mgpx với tính năng tự động lấy nét và hỗ trợ chụp trong vùng ánh sáng yếu cùng chế độ chụp cận cảnh. Tính năng quay phim được tích hợp sẵn trên firmware iPhone OS 3.0...

Cùng được cung cấp sản phẩm iPhone tại Việt Nam như Mobifone có vẻ chậm chân khi dự tính sẽ tung sản phẩm này ra thị trường vào đầu tháng 4-2010. Tuy nhiên, với việc hai đối thủ lựa chọn ngày 26-3 để tung sản phẩm iPhone ra thị trường, nhà mạng này cũng có thể phải suy nghĩ lại.

Ngã ngửa

Điều đáng nói trong cuộc đua được cung cấp sản phẩm iPhone tại thị trường Việt Nam là cả 3 nhà mạng VinaPhone, Mobifone và Viettel đều bị Apple qua mặt khi nghĩ mình là đối tác duy nhất được Apple lựa chọn để độc quyền cung cấp sản phẩm tại Việt Nam.

Cuối năm 2009, Apple mời cả 3 nhà mạng lớn nhất Việt Nam sang Mỹ đàm phán. Sau đó, Apple đã ký kết hợp tác với từng nhà mạng về việc cung cấp iPhone tại Việt Nam nhưng không cho bên thứ ba biết. Điều này khiến cả VinaPhone, Mobifone và Viettel đều nghĩ rằng mình là đối tác duy nhất được chọn.

Chỉ đến khi công bố chuyện bán iPhone tại Việt Nam, cả ba mới ngã ngửa rằng không chỉ mình là nhà mạng duy nhất được lựa chọn. Chính vì vậy, cả 3 nhà mạng đều phải lên kế hoạch, đưa ra những gói cược hấp dẫn, giá bán hấp dẫn đối với sản phẩm iPhone để thu hút khách hàng về phía mình. Vì thế, cuộc đua thời gian cung cấp sản phẩm và các gói cước vẫn sẽ còn tiếp diễn.

(Thanh Phương -

Theo báo Tuổi Trẻ)

Share:

Thứ Ba, 6 tháng 11, 2012

Thương hiệu và lý thuyết bất đối xứng thông tin

thong-tinHoạt động mua bán mặc nhiên là một giao dịch bất đối xứng thông tin. Tuy nhiên, mức độ bất đối xứng thông tin sẽ phụ thuộc vào từng loại hàng hóa cụ thể. Nếu hiểu được mức độ và tính chất bất đối xứng thông tin, ta sẽ tìm ra được những cách thức truyền thông tiếp thị phù hợp.

Bất đối xứng thông tin

Bất đối xứng thông tin là một khái niệm trong chuyên ngành kinh tế học thông tin mô tả tình huống trong đó những người tham gia tương tác trên thị trường nắm được những thông tin khác nhau về giá trị hoặc chất lượng của một tài sản hay dịch vụ đang được giao dịch (trao đổi) trên thị trường đó.

Trong trường hợp giao dịch diễn ra giữa người mua và người bán thì việc bất đối xứng thông tin là khi người bán biết rõ về sản phẩm hay dịch vụ mình bán, trong khi người mua lại không có hoặc có rất ít thông tin. Thông tin bất đối xứng sẽ dẫn đến nhiều hậu quả như lừa đảo, không đánh giá hết mức độ rủi ro trong giao dịch, giao dịch không thể diễn ra, thị trường không phát triển...

Vấn đề bất đối xứng thông tin bắt đầu được đề cập trong một bài báo kinh điển xuất bản vào năm 1970 của nhà kinh tế học người Mỹ George Akerlof: "The Market of Lemons: Quality Uncertainty and the Market Mechanism".

Trong bài báo này, George Akerlof đã áp dụng thị trường xe hơi cũ tại Mỹ để minh họa cho vấn đề bất đối xứng thông tin khi mà người bán xe biết rất rõ hiện trạng của chiếc xe mình muốn bán còn người mua thì không.

Đặt giả thiết là hai bên không thể trao đổi thông tin với nhau. Ban đầu người bán sẽ ra giá 8.000 đô la Mỹ cho một chiếc xe cũ. Nhưng vì người mua không biết giá trị thật của nó là bao nhiêu nên chỉ chấp nhận với mức giá trung bình là 4.000 đô la Mỹ. Với mức giá đó, tất cả những ai bán xe biết rằng giá trị của chiếc xe mình cao hơn 4.000 đô la Mỹ sẽ rút ra khỏi thị trường, thị trường xe chỉ còn những xe có giá dưới 4.000 đô la Mỹ.

Đến lúc này, do thiếu thông tin, người mua lại chỉ ước đoán giá trị thật của chiếc xe này phải dưới 4.000 đô la Mỹ, họ sẽ trả giá 2.000 đô la Mỹ. Và từ đó, những người bán xe biết rõ xe mình có giá trị cao hơn 2.000 đô la Mỹ rẽ rút lui. Cứ như thế, thị trường sẽ còn lại những chiếc xe rất xấu và tệ hại nhất mà theo tiếng lóng của người Mỹ là những quả chanh. Như vậy, khi thông tin bất đối xứng, giao dịch sẽ không diễn ra. Để giải quyết bài toán thú vị này, đã có hai lời giải được đưa ra:

Năm 1973, Michael Spence, nguyên Hiệu trưởng trường Kinh doanh Stanford, đã viết bài báo "Job-Market Signaling" để nói về việc đánh giá thông tin các ứng viên thông qua bằng cấp của họ trong tuyển dụng. Hiểu đơn giản, khi mà người tuyển dụng không thể biết chính xác năng lực của người ứng tuyển thì bằng cấp đại học là một thông tin cần thiết. Từ đó, "Signaling" là một thuật ngữ dùng để mô tả việc bên bán thể hiện những thông tin có ý nghĩa của mình cho những bên mua nhằm làm giảm đi quá trình bất đối xứng thông tin.

Nếu "Signaling" là bên bán đưa ra tín hiệu thông tin thì ngược lại, thuật ngữ "Screening" đề cập đến việc bên mua tìm hiểu thông tin thông qua một nguồn thông tin độc lập khác. Thuật ngữ này được nhà kinh tế học lừng danh từng giữ chức Phó chủ tịch Ngân hàng Thế giới Joseph Stiglitz phát triển.

Lấy ví dụ khi ngân hàng cho bạn vay tiền. Để có thể hiểu hơn về khả năng trả nợ của bạn, họ sẽ tiến hành thu thập thông tin về bạn như là tình trạng tài chính, trình độ, công việc, lý do vay tiền... để quyết định mức độ cho vay. Đây là phương pháp thường được dùng cho những trường hợp có mức độ rủi ro cao như bảo hiểm, tài chính...

Akerlof, Spence và Stiglitz sau đó đã đoạt giải Nobel Kinh tế vào năm 2001 về những nghiên cứu lý thuyết bất đối xứng thông tin. Cho đến nay, lý thuyết này được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như bảo hiểm, tài chính, quản lý công... Trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét việc dùng lý thuyết này để giải thích các vấn đề về xây dựng thương hiệu.

Truyền thông tiếp thị từ góc nhìn thông tin

Hoạt động mua bán mặc nhiên đã là một giao dịch bất đối xứng thông tin. Tuy nhiên, mức độ bất đối xứng thông tin sẽ phụ thuộc vào từng hàng hóa cụ thể. Và cách thức mà người bán (công ty) và người mua (khách hàng) giải quyết vấn đề này cũng hoàn toàn khác nhau. Nếu hiểu được mức độ và tính chất bất đối xứng thông tin, ta sẽ tìm ra được những cách thức truyền thông tiếp thị phù hợp. Xin lấy ví dụ về ba loại sản phẩm có mức độ bất đối xứng thông tin khác nhau là quần áo, máy chụp hình kỹ thuật số và dầu gội đầu.

Quần áo được xem là sản phẩm có mức độ bất đối xứng thông tin thấp. Người mua hoàn toàn có thể xem xét về chất lượng, kiểu dáng trước khi ra quyết định mua. Ở mức độ bất đối xứng cao hơn, người mua tuy có thể không đánh giá được độ bền hay chất lượng ảnh thật sự của máy chụp ảnh kỹ thuật số theo thời gian, bù lại họ có thể đánh giá thông tin thông qua việc dùng thử, tìm hiểu tính năng và các công nghệ của máy.

Cuối cùng, dầu gội được xem là hàng hóa có mức độ bất đối xứng thông tin cao nhất vì người mua hầu như không biết nhiều về thành phần và chất lượng của nó, ngay cả khi họ đã dùng thử trong thời gian dài. Rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng: sản phẩm càng có mức độ bất đối xứng thông tin cao thì người mua càng phụ thuộc nhiều vào thương hiệu và có xu hướng tiêu dùng lặp lại.

Thông tin về chất lượng, kiểu dáng của quần áo dễ dàng có được, vì vậy việc xây dựng thương hiệu thông qua hai yếu tố này hầu như rất khó khăn. Và do đó, việc xây dựng thương hiệu của những mặt hàng này không nên chú trọng vào việc cung cấp thông tin mà phải tập trung vào những cảm xúc và trải nghiệm tiêu dùng (công dụng đầu tiên của thương hiệu đối với người tiêu dùng).

Mua sản phẩm công nghệ như máy chụp hình kỹ thuật số thường có tính rủi ro cao. Do đó, người tiêu dùng không chỉ nhận thông tin từ nhà sản xuất mà còn chủ động tìm hiểu thông tin (Screening). Và như vậy, chiến lược truyền thông tiếp thị của mặt hàng này là vừa phát thông tin thông qua quảng cáo, đồng thời tích cực cung cấp và tạo dựng thông tin có lợi cho bên thứ ba. Ngày nay, với sự lớn mạnh của Internet, việc trao đổi và tiếp cận các nguồn thông tin đã trở nên dễ dàng hơn, từ đó giúp việc mua những mặt hàng công nghệ trở nên hiệu quả hơn nhưng cũng đặt ra cho nhà quản lý tiếp thị những thách thức to lớn trong việc truyền tải và tạo dựng thông tin có lợi.

Với dầu gội hay những sản phẩm tiêu dùng nhanh khác, thông tin có được là rất khó, phương pháp Signaling được ứng dụng nhiều hơn. Vì vậy mà mức độ phụ thuộc vào quảng cáo ở ngành hàng này là rất lớn. Do khả năng có được thông tin về chất lượng của những mặt hàng này là thấp nên thông tin được phát đi sẽ tập trung nhiều vào tính năng và chất lượng của sản phẩm. Dần dần, khi thông tin được phát đi liên tục, người tiêu dùng sẽ chấp nhận thương hiệu và có khuynh hướng tiêu dùng lặp lại nhằm giảm thiểu thời gian tìm hiểu thông tin, đánh giá và lựa chọn.

Thay cho lời kết, xin trích lời tác giả Charles Wheenlan trong cuốn sách Đô la hay lá nho: "Xây dựng thương hiệu thường bị coi là công cụ trục lợi của những tập đoàn đa Quốc Gia thuyết phục chúng ta trả những khoản tiền cực cao cho những thứ chúng ta không cần đến. Kinh tế học nhìn vấn đề này theo một hướng khác: xây dựng thương hiệu tạo dựng niềm tin, một yếu tố cần thiết cho hoạt động của một nền kinh tế phức tạp".

(Đặng Quân -

Theo TBKTSG)

Share:

Thứ Hai, 5 tháng 11, 2012

Tập đoàn Mai Linh: Lỗ ròng 224 tỷ đồng trong 3 năm liên tiếp

tap-doan-mai-linhNăm 2009, Tập đoàn Mai Linh tiếp tục lỗ ròng hơn 43,3 tỷ đồng. Tổng lỗ lũy kế đến 31/12/2009 là hơn 277 tỷ đồng.

Tập đoàn Mai Linh là một trong những doanh nghiệp lớn hoạt động trong lĩnh vực vận tải hành khách, lữ hành…Trong đó, mảng kinh doanh chính là dịch vụ taxi.

Tập đoàn bao gồm công ty mẹ - CTCP Tập đoàn Mai Linh (MLG) và hơn 70 công ty con. Trong đó có 13 công ty con do MLG nắm giữ trực tiếp và các công ty con của các công ty con này.

Theo bản công bố thông tin của công ty, tính đến 30/9/2009, đội xe taxi Mai Linh gồm 7.000 chiếc – là đội xe taxi lớn nhất nước. Hoạt động kinh doanh taxi của công ty đã phủ rộng trên hầu khắp các tỉnh trên cả nước.

Mặc dù là doanh nghiệp có thương hiệu và thị phần lớn nhưng kết quả kinh doanh hợp nhất của MLG đã lỗ 3 năm liên tiếp.

Lợi nhuận hoạt động taxi giảm mạnh

Theo báo cáo tài chính hợp nhất, năm 2009, CTCP Tập đoàn Mai Linh (MLG) đạt 2.429 tỷ đồng doanh thu thuần, tăng 339,3 tỷ, tương ứng tăng 16,2% so với năm 2009.

Lợi nhuận gộp năm 2009 đạt 619 tỷ đồng, tăng 12,1% so với năm trước. Do tốc độ tăng giá vốn lớn hơn tốc độ tăng doanh thu nên biên lợi nhuận gộp đã giảm từ 26,4% xuống 25,5%.

Trong đó, doanh thu từ hoạt động taxi đạt 1866,5 tỷ đồng, chiếm xấp xỉ 76,4% doanh thu. So với năm 2008, doanh thu hoạt động này tăng 690,4 tỷ, tương ứng 58,7% so với năm 2008.

Tuy nhiên, lợi nhuận gộp hoạt động taxi lại giảm từ 533 tỷ xuống 388,3 tỷ đồng. Biên lợi nhuận gộp giảm mạnh từ 45,3% xuống 20,8%.

Hai khoản thu lớn khác là doanh thu bán xe, đạt 230,8 tỷ đồng, chiếm 9,4% doanh thu và doanh thu cho thuê xe, đạt 140,7 tỷ, chiếm 5,8%.

kinh-doanh-mai-linh-2007-2009

Chi phí tài chính lớn

Việc phải vay nợ nhiều và chi phí lãi vay cao là một trong những nguyên nhân làm MLG chưa thể có được lợi nhuận.

Chi phí tài chính (chủ yếu là chi phí lãi vay) năm 2009 là 309,4 tỷ đồng, giảm hơn 50 tỷ so với năm trước.

Tại thời điểm 31/12/2009, tổng vay và nợ của MLG là hơn 3.032 tỷ đồng – tăng 738,3 tỷ so với năm trước.

chi-phi-tai-chinh-mai-linh

Chi phí tài chính giảm hơn 50 tỷ và doanh thu tài chính tăng 12 tỷ so với năm trước nhưng chi phí bán hàng và chi phí quản lý cũng tăng lên một khoản tương đương, từ 318,5 tỷ lên 373 tỷ đồng.

Việc có tới hơn 70 công ty con đã làm phát sinh một khoản chi phí quản lý lớn.

Lỗ 3 năm liên tiếp

Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh năm 2009 là -35,5 tỷ đồng, bằng 1/3 so với mức -110,7 tỷ đồng của năm trước và cũng thấp hơn mức lỗ 66,4 tỷ của năm 2007.

Cùng với 52 tỷ đồng lợi nhuận khác và 2,2 tỷ đồng lợi nhuận từ công ty liên doanh liên kết, MLG đạt 18,7 tỷ đồng trước thuế.

Tuy nhiên, khi trừ đi chi phí thuế TNDN, thì lợi nhuận sau thuế là -11,5 tỷ đồng. Nguyên nhân là do thuế TNDN được tính riêng rẽ đối từng công ty chứ không phải dựa trên LNTT hợp nhất.

Trừ tiếp đi phần lợi nhuận thuộc về cổ đông thiểu số, lợi nhuận ròng năm 2009 của MLG là -43,3 tỷ đồng.

So với năm 2008, mức lỗ đã giảm đi gần 75 tỷ. Tuy nhiên, trong 3 năm từ 2007-2009, MLG đã bị lỗ ròng 224 tỷ đồng.

Lợi nhuận chưa phân phối tính đến cuối năm 2009 là hơn 277 tỷ đồng. Vốn chủ sở hữu là 656 tỷ đồng, thấp hơn vốn điều lệ. Cuối năm 2009, công ty đã chia thưởng từ thặng dư để tăng vốn điều lệ từ 707 tỷ lên 875,9 tỷ đồng.

Đối với hoạt động của riêng công ty mẹ : doanh thu thuần giảm từ 754 tỷ xuống 574,7 tỷ đồng. LNST giảm từ -51,4 tỷ xuống -74,3 tỷ đồng.

Theo số liệu đã công bố, một số doanh nghiệp thành viên của MLG có lãi năm 2009 như: Mai Linh Bắc Trung Bộ lãi ròng 6,4 tỷ đồng, Mai Linh Đông Bắc Bộ đạt 38,5 tỷ đồng LNST…

Mới đây, Mai Linh Đông Bắc bộ đã đăng ký niêm yết hơn 40 triệu cổ phiếu tại HNX. Công ty có 17 công ty con, hoạt động kinh doanh taxi tại các tỉnh phía bắc từ Nghệ An trở ra.

So sánh với Vinasun

Trên sàn hiện có một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh taxi đang niêm yết là Vinasun (VNS), Taxi gas Saigon Petrolimex (PGT) và một bộ phận của PV Trans (PVT), Tập đoàn Hoàng Long (HLG).

Trong đó, VNS là đối thủ lớn nhất của Mai Linh tại các thị trường Tp.HCM, Đồng Nai, Bình Dương. Tại các thị trường này, VNS đều là doanh nghiệp có thị phần lớn nhất.

Bảng dưới đây so sánh một số chỉ tiêu tài chính năm 2009 giữa MLG và VNS:

mai-linh-vinasun

(Thanh Phương -

Theo CafeF/ MLG , VNS )

Share:

Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2012

“Khơi nguồn sáng tạo” trong xây dựng thương hiệu Việt

martin-roll"Các doanh nghiệp châu Á trong đó có Việt Nam với chức năng gia công hàng cho các nước phương Tây chỉ được xem là người sản xuất chứ không phải là người sở hữu thương hiệu. Vậy nên họ luôn phải trực tiếp gánh chịu hậu quả khi khủng hoảng xảy ra như: không có đơn hàng, công nhân mất việc làm..."

Đó là lời khuyên và cũng là lời cảnh báo của một trong tám chuyên gia hàng đầu thế giới về chiến lược marketing xây dựng thương hiệu – ông Martin Roll (ảnh) đến từ Đan Mạch, đồng thời là diễn giả chính tại Hội thảo "Chiến lược thương hiệu dẫn đầu – cách tiếp cận mới cho doanh nghiệp châu Á" do Viện Marketing & Quản trị Việt Nam phối hợp cùng Tập đoàn Masso Consulting tổ chức - Hội thảo đã thu hút khoảng 100 nhà lãnh đạo doanh nghiệp và các chuyên gia tiếp thị và thương hiệu.

Là người đi tiên phong trong việc nghiên cứu các thương hiệu châu Á, ông Martin Roll cho rằng trong khoảng 5-10 năm trở lại đây, các doanh nghiệp (DN) châu Á đã bắt đầu chú trọng hơn đến việc phát triển thương hiệu. Tuy nhiên, quãng thời gian qua mới chỉ là bước khởi đầu và đến nay số thương hiệu châu Á trở thành biểu như các thương hiệu ở các nước phương Tây chỉ đếm trên đầu ngón tay và hầu như chỉ tập trung ở Nhật Bản ( Sony , Panasonic, Toyota …), và Hàn Quốc (Samsung, Hyundai…).

Hiện nay, nhiều DN châu Á đã có chức danh Giám đốc quản lý về chiến lược marketing (CMO). Marketing giúp DN cạnh tranh tốt hơn và họ không thể xây dựng thương hiệu theo cách từ dưới lên trên. Chẳng hạn như nhìn vào Tập đoàn Samsung của Hàn Quốc, một trong những lý do thành công của họ là họ có Giám đốc hoạt động về marketing nhờ sự đề bạt của ban lãnh đạo tập đoàn này. Ở Samsung, CMO là người quan trọng thứ 2 sau CEO.

"Thương hiệu không chỉ là hình ảnh về một cái logo bởi vì nó liên quan đến chiến lược kinh doanh, việc tạo ra nhiều giá trị gia tăng. DN không thể xây dựng thương hiệu từ dưới lên trên mà phải bắt đầu từ ban lãnh đạo công ty cho đến cấp thấp nhất. Nếu không đặt marketing lên hàng đầu thì không thể xây dựng một thương hiệu mạnh, và để xây dựng một thương hiệu mạnh thì DN cần phải có niềm tin, quyết định cụ thể về marketing." – ông Martin Roll nói.

Cạnh tránh giá rẻ "bóp chết" sự sáng tạo

Lý giải nguyên nhân vì sao ở Việt Nam chưa có một thương hiệu mang tính toàn cầu, ông Martin Roll cho rằng văn hóa kinh doanh của các DN Việt Nam bị ảnh hưởng bởi "tập quán" của người châu Á nói chung. Thông thường người châu Á vẫn coi cạnh tranh giá rẻ là một lợi thế, trong đó Trung Quốc là Quốc Gia đi đầu trong trào lưu này. Tuy nhiên, xu hướng đó sẽ sớm trở nên lạc hậu, và cho đến nay, mặc dù hàng hóa Trung Quốc có mặt ở khắp nơi trên thế giới nhưng lại chẳng có thương hiệu nào của đất nước này có tầm ảnh hưởng đến toàn thế giới.

Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 đã khiến nhiều hàng hóa bán ra với giá rẻ nhưng lợi nhuận thấp. Nhiều nước châu Á tập trung vào xu hướng này mà không đầu tư cho sự sáng tạo. Trong khi đó, đối với một thương hiệu của phương Tây như hãng sản xuất đồ thể thao Nike, giá thành để làm ra một đôi giày hiệu Nike có thể chỉ là 2 USD, nhưng ra ngoài thị trường giá của nó lại lớn hơn rất nhiều lần vì đôi giày đó mang thương hiệu Nike. Việc tận dụng lao động giá rẻ ở châu Á đã khiến cho những "ông lớn" như Nike thu được một khoản lợi nhuận khổng lồ. Tất nhiên, khoản lợi nhuận đó là do Nike thu lại chứ không phải do người công nhân trực tiếp làm ra đôi giày đó.

"Chính vì vậy, các DN châu Á với chức năng gia công hàng cho các nước phương Tây chỉ được xem là người sản xuất chứ không phải là người sở hữu thương hiệu. Vậy nên họ luôn phải trực tiếp gánh chịu hậu quả khi khủng hoảng xảy ra (không có đơn hàng, công nhân mất việc làm)".

Đối với một số thương hiệu hàng đầu thế giới như Luis Vuitton, Chanel, Gucci…, giá cả không phải chỉ để lấy lại giá thành mà còn là thước đo giá trị của thương hiệu. Đặc điểm của các thương hiệu này không bao giờ chấp nhận bán hạ giá sản phẩm của mình trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Đó là bí quyết để họ duy trì giá trị thương hiệu của mình.

Để xây dựng nên một thương hiệu tốt, ngoài sự đầu tư tương xứng, các DN còn phải có một sự đột phá trong tư duy. Một tư duy đúng còn quan trọng hơn yếu tố về nguồn lực và đôi khi không cần nhiều đến sự đầu tư lớn nhưng DN vẫn thành công. Chẳng hạn như thương hiệu Starbucks, họ không cần quảng cáo mà chỉ tập trung vào cách trang trí cửa hiệu và chất lượng dịch vụ, nhưng thương hiệu Starbucks đến nay không chỉ được biết đến ở khắp châu Âu, châu Mỹ mà cả châu Á.

Lấy ví dụ về sự thành công trong việc đột phá trong tư duy, Creative là một thương hiệu có trước Apple nhưng đến nay không thể so sánh với Apple bởi người tiêu dùng không chỉ mua công nghệ mà còn mua cả sự tiện dụng, khả năng đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng.

"Đối với những hãng chuyên sản xuất các mặt hàng công nghệ như vậy, các kỹ sư dù có giỏi đến đâu cũng chỉ có thể sáng tạo về mặt công nghệ chứ họ không thể hiểu rõ sở thích, thói quen người tiêu dùng. Đó chính là bí quyết để Apple nhanh chóng vượt mặt "đàn anh" Creative."

Điều này cho thấy, để xây dựng nên một thương hiệu mạnh không chỉ copy một khuôn mẫu có sẵn và tạo ra một sản phẩm chi phí thấp. DN phải tạo ra những điểm mới về mặt chất lượng, thiết kế… phải chủ động không ngừng sáng tạo, tự tạo con đường đi riêng cho mình.

Phải tự hào về nguồn gốc của mình

Ông Martin Roll cũng chỉ ra rằng, các DN khi xây dựng thương hiệu cần phải đặt ra câu hỏi mình từ đâu đến để cho "thiên hạ" biết được thương hiệu của mình bắt nguồn từ quốc gia nào.

"Đừng cố học theo Nhật Bản hay Hàn Quốc mà phải thể hiện được bản sắc dân tộc, phải tự hào về nguồn gốc của mình. Trong xây dựng thương hiệu, cần phải tính đến cả yếu tố văn hóa, xã hội, phải đan được đặc trưng của thương hiệu vào mảnh vải xã hội."

Việc xây dựng thương hiệu đòi hỏi một quá trình dài lâu, đi kèm với đó là sự nỗ lực trong việc giữ gìn thương hiệu. Yếu tố duy trì dịch vụ chính là yếu tố giữ gìn hình ảnh của thương hiệu. Chẳng hạn như việc sử dụng "pháo đài bay" A380 cũng có thể xem là một phương tiện để làm tăng giá trị thương hiệu của hãng hàng không Singapore Airlines.

Làm hài lòng khách hàng hiện tại cũng chính là cách để giữ gìn thương hiệu. Nhiều DN không duy trì được thương hiệu của mình là do không duy trì được các cam kết với khách hàng.

Cuối cùng, ông Martin Roll kết luận: "Phải có chiến lược về thương hiệu và coi thương hiệu như một thứ tài sản. Kiêu ngạo và tự mãn là kẻ thù nguy hiểm nhất của một thương hiệu mạnh."

(Thanh Phương -

Theo InfoTV)

Share:

Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2012

VNG công bố hệ thống nhận diện thương hiệu mới

vinagame-logoTin từ Công ty VNG cho biết, kể từ ngày 17/5/2010, VNG chính thức sử dụng hệ thống nhận diện thương hiệu mới. Đây là một trong những sự kiện đặc biệt quan trọng của VNG trong năm 2010.

Logo mới đánh dấu bước chuyển mình tất yếu và toàn diện của VNG hướng tới mục tiêu trở thành công ty công nghệ hàng đầu phát triển Internet để thay đổi cuộc sống của người Việt Nam .

Ý nghĩa của logo mới

Ông Lê Hồng Minh, Tổng giám đốc VNG chia sẻ: Mục tiêu trong 5 năm tới của VNG là đầu tư rất mạnh vào việc nghiên cứu và phát triển (R&D) công nghệ, để thực sự làm chủ sản phẩm và công nghệ Internet chứ không chỉ đơn thuần là kinh doanh game. Một trong những trăn trở của ban lãnh đạo công ty khi đổi từ tên VinaGame - vốn đã quen thuộc trong hơn 5 năm qua - sang tên mới - VNG , là vấn đề logo thương hiệu sao cho phù hợp với chiến lược phát triển mới và thể hiện được khát vọng của công ty.

Trải qua hơn 4 tháng, với sự hợp tác của các chuyên gia thiết kế thương hiệu, logo mới của VNG đã ra đời.

Logo VNG mới có hình dáng cách điệu một ngọn lửa đang cháy - biểu trưng cho 3 giá trị quan trọng của công ty là: nhiệt huyết, cầu tiến và năng động. Hình dáng vươn lên của logo thể hiện cho sức trẻ và tinh thần dấn thân của tập thể VNG. Bộ logo mới của VNG gồm 3 màu cơ bản của ngọn lửa: da cam, xanh lam và vàng. Màu cam thể hiện đội ngũ nhân sự VNG là những con người nhiệt huyết, đoàn kết và tài năng; màu xanh đặc trưng của công ty hoạt động trong lĩnh vực Internet và công nghệ; và màu vàng thể hiện thông điệp luôn mang lại giá trị tốt nhất cho khách hàng.

vinagame-new-logo

" Người VNG trẻ, tài năng và tràn đầy nhiệt huyết, vì thế chúng tôi không chỉ chấp nhận thử thách một cách thụ động mà còn trực tiếp tìm đến các thử thách, coi thử thách là một cơ hội để vượt qua chính mình cũng như thay đổi cuộc sống xung quanh ", ông Minh nói.

Đi kèm với logo mới là khẩu hiệu ( slogan ) "embracing challenges" (đón nhận thách thức) thể hiện khát vọng chinh phục, đổi mới và vươn lên của tập thể công ty VNG.

logo-vinagame

Chiến lược đầu tư cho nguồn nhân lực

Năm 2010 và các năm tiếp theo, VNG xác định mục tiêu chiến lược là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. VNG sẽ tiến hành nhiều chương trình hợp tác, phát triển, nuôi dưỡng và thu hút nhân lực trẻ để phục vụ cho các mảng nghiên cứu phát triển và công nghệ của VNG.

Một số chương trình về nguồn nhân lực VNG đã và đang triển khai: Chương trình Fresher dành cho những SV năm cuối có kỹ năng tốt sẽ được bồi dưỡng toàn diện trong môi trường làm việc của VNG và có cơ hội trở thành nhân viên chính thức của VNG; Chương trình On job training dành cho các bạn SV có tài năng và đam mê nghiên cứu có thể vừa học vừa làm; Chương trình hỗ trợ học bổng tài năng trẻ; Chương trình tài trợ phòng Lab; Chương trình hợp tác giảng dạy…

Cũng trong năm nay, VNG đang và sẽ khởi xướng một loạt các hoạt động xã hội hướng tới cộng đồng: Dự án từ thiện dành cho người khuyết tật, dự án chữ nổi cho người khiếm thị…

Thông tin về công ty VNG

Công ty VNG được thành lập ngày 09/9/2004 bởi những game thủ say mê ngành công nghiệp game online. Đến nay, ngoài mảng dịch vụ/sản phẩm về Game, VNG còn phát triển các dịch vụ/sản phẩm về Mạng xã hội , Internet di động, phần mềm quản lý phòng máy CSM, hệ thống thanh toán điện tử mở, thương mại điện tử… tiếp tục khẳng định vị trí dẫn đầu trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ cho cộng đồng trên nền Internet tại Việt Nam.

Xem thêm thông tin về VNG tại địa chỉ: http://www.vng.com.vn

(Thanh Phương -

Theo Vinagame)

Share:

Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2012

Bình Định đòi lại thương hiệu Bàu Đá

ruoubaudaNhững gia đình sản xuất rượu Bàu Đá truyền thống ở làng Bàu Đá, thôn Cù Lâm Bắc, xã Nhơn Lộc, huyện An Nhơn (Bình Định) đang tiếp tục kiến nghị các cơ quan chức năng can thiệp để lấy lại thương hiệu rượu Bàu Đá do Công ty TNHH Thực phẩm Minh Anh sở hữu gần 10 năm nay. Công ty này có trụ sở tại Đà Nẵng và có cơ sở sản xuất tại Bình Định.

"Loạn" nhãn hiệu

Hiện nay, đi dọc quốc lộ 1A đoạn qua tỉnh Bình Định, hầu như nơi nào cũng trưng bán rượu Bàu Đá. Tại tỉnh Bình Định còn có đến hàng trăm cơ sở kinh doanh rượu, họ vô tư đóng chai, dán nhãn hiệu Bàu Đá.

Ông Lê Hồng Thanh, chủ của một trong những gia đình nấu rượu Bàu Đá lâu đời nhất ở Cù Lâm Bắc, nói: "Hiện nay ở Cù Lâm Bắc còn 32 hộ nấu rượu Bàu Đá. Gia đình tôi là một trong những hộ nấu nhiều nhất nhưng mỗi ngày cao nhất cũng chỉ nấu được 30 lít rượu theo đúng công thức truyền thống, còn lại trung bình mỗi hộ chỉ 20 lít. Thế nhưng không biết họ lấy đâu ra mà chỗ nào cũng có rượu Bàu Đá".

Nhiều người ở làng Bàu Đá cho biết phần lớn cơ sở bán rượu Bàu Đá ở Bình Định hiện nay không lấy rượu tại làng này mà chủ yếu họ mua các loại rượu gạo bình thường, giá chỉ bằng một nửa so với rượu Bàu Đá rồi đóng chai, dán nhãn, tung ra thị trường. Hiện nay rượu Bàu Đá tại thôn Cù Lâm Bắc bán tại chỗ với giá 13.000-15.000 đồng/lít. Trong khi đó, các loại rượu trôi nổi chỉ 6.000-8.000 đồng/lít. Do đó, người ta đua nhau mua các loại rượu trôi nổi này rồi dán nhãn Bàu Đá, bán với giá còn cao hơn cả rượu do người dân Bàu Đá chưng cất.

Vợ ông Thanh cho biết thêm: "Do thị trường có nhu cầu lớn, nhiều người chạy theo lợi nhuận đã sử dụng men bột Trung Quốc để nấu được nhiều rượu hơn men truyền thống. Tuy nhiên, họ vẫn cứ vô tư dán nhãn Bàu Đá rồi bán đi khắp nơi. Không chỉ khách phương xa mà ngay cả nhiều người dân Bình Định cũng rất khó phân biệt rượu thật và giả".

Chưa có hướng giải quyết

Cuộc chiến đòi lại thương hiệu của người dân thôn Cù Lâm Bắc với sự trợ giúp của các cơ quan chức năng tỉnh Bình Định diễn ra dai dẳng hơn chín năm nay và càng ngày càng rối.

ruou-bau-da

Dọc quốc lộ 1A đoạn qua tỉnh Bình Định có đến hàng trăm cơ

sở bán rượu dán nhãn Bàu Đá. Ảnh: UYÊN THU

Sau nhiều năm đòi lại thương hiệu Bàu Đá từ Công ty Minh Anh không có kết quả, năm 2007 tỉnh Bình Định đã thành lập Hiệp hội Sản xuất, kinh doanh rượu Bàu Đá để đơn vị này làm đại diện pháp nhân đứng ra đăng ký nhãn hiệu tập thể cho rượu Bàu Đá.

Bà Trần Thị Thu Hà, Giám đốc Sở Khoa học Công nghệ tỉnh Bình Định, cho biết để hỗ trợ hiệp hội này, UBND tỉnh Bình Định đã nhiều lần có công văn đề nghị Bộ Khoa học Công nghệ hủy bỏ hiệu lực giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa rượu Bàu Đá của Công ty Minh Anh. Đồng thời, tỉnh cũng hỗ trợ xác lập bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tập thể cho thương hiệu rượu Bàu Đá. Tại nhiều buổi làm việc giữa lãnh đạo tỉnh Bình Định và Bộ Khoa học Công nghệ, lãnh đạo bộ này đã hứa hỗ trợ việc đăng ký nhãn hiệu tập thể và giao Cục Sở hữu trí tuệ giải quyết dứt điểm vụ việc. Tuy nhiên, đến nay Cục Sở hữu trí tuệ vẫn chưa có hướng giải quyết cụ thể.

Theo ông Lê Quang Tâm, Chủ tịch Hiệp hội Sản xuất, kinh doanh rượu Bàu Đá, cuối năm 2007 Hiệp hội và Sở Khoa học Công nghệ tỉnh Bình Định đã gửi hồ sơ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tập thể Bàu Đá và đã được Cục Sở hữu trí tuệ chấp nhận đơn hợp lệ.

Cũng theo ông Tâm, Cục Sở hữu trí tuệ đã đề nghị Công ty Minh Anh gia nhập Hiệp hội Sản xuất, kinh doanh rượu Bàu Đá nhưng công ty này đã từ chối. Trước tình hình này, Cục Sở hữu trí tuệ có công văn nêu rõ: "Công ty Minh Anh có trách nhiệm tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu nhãn hiệu rượu Bàu Đá theo giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 6137493 cho Hiệp hội Sản xuất, kinh doanh rượu Bàu Đá tỉnh Bình Định để làm thủ tục đề nghị Cục Sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tập thể".

Tuy nhiên, công ty này vẫn không chấp nhận chuyển giao. Tại buổi làm việc lần cuối cùng giữa các bên để quyết định giải quyết việc tranh chấp thương hiệu rượu Bàu Đá do Cục Sở hữu trí tuệ (Văn phòng 3 tại Đà Nẵng) tổ chức mới đây, lãnh đạo Công ty Minh Anh kiên quyết không ký vào biên bản.

Không thương lượng đươc thì phải thêm dấu hiệu phân biệt

Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ Trần Việt Hùng cho biết trước đây Công ty Minh Anh (Đà Nẵng) được tỉnh Bình Định chấp thuận cho mở xưởng sản xuất tại khu vực Bàu Đá và kết hợp với một số cơ sở sản xuất tại địa phương để phát triển nhãn hiệu rượu này. Trên cơ sở đó mà công ty này đã đăng ký nhãn hiệu rượu "Bàu Đá Minh Anh". Cục cũng đã xem xét giải quyết hồ sơ này theo đúng quy định.

Sau đó, Hiệp hội Sản xuất, kinh doanh rượu Bàu Đá Bình Định ra đời và đăng ký nhãn hiệu tập thể rượu Bàu Đá. Đây cũng là quyền lợi chính đáng của hiệp hội.

Tuy nhiên do Công ty Minh Anh đã đăng ký trước nên có lấn cấn pháp lý phát sinh cho việc đăng ký của hiệp hội. Cục không thể yêu cầu Công ty Minh Anh từ bỏ nhãn hiệu vì quy trình đăng ký trước đây của họ là hoàn toàn phù hợp pháp luật. Do đó, muốn giải quyết vấn đề này thì hiệp hội và Công ty Minh Anh cần ngồi lại thỏa thuận với nhau.

Hai bên chưa thỏa thuận được nên đến nay vẫn chưa thể giải quyết xong vụ việc này. Mới đây, Cục cũng gợi ý một phương án giải quyết là hiệp hội nên đưa thêm dấu hiệu phân biệt vào nhãn hiệu tập thể của mình để phân biệt với Bàu Đá Minh Anh. Đây cũng là cách thường được áp dụng trong giải quyết tranh chấp về nhãn hiệu.

Nếu địa danh đã được một doanh nghiệp nhanh chân đăng ký bảo hộ là nhãn hiệu riêng của mình và doanh nghiệp đã sử dụng rộng rãi nhãn hiệu này thì việc bảo hộ dưới hình thức khác (nhãn hiệu tập thể/chỉ dẫn địa lý) chỉ có thể thực hiện được nếu doanh nghiệp đó đồng ý. Người dân địa phương và chính quyền địa phương có thể thỏa thuận với doanh nghiệp để doanh nghiệp chuyển giao nhãn hiệu cho cộng đồng.

(Thanh Phương -

Theo báo Pháp Luật)

Share:

Thứ Năm, 1 tháng 11, 2012

CNTT Việt Nam cần một 'thương hiệu quốc gia'

thuong-hieu-cong-ngheTrong bối cảnh các tập đoàn đa Quốc Gia đang dịch chuyển dòng vốn đầu tư của mình từ các nước phát triển sang các thị trường mới nổi để tìm kiếm cơ hội và giảm bớt rủi ro, Việt Nam cần làm gì để "đón đầu" và bứt phá?

Câu trả lời chính là "xây dựng thương hiệu quốc gia, giữ vững thị trường nội địa, hoàn thiện khung pháp lý, đào tạo theo đơn đặt hàng và tập trung cho lĩnh vực dịch vụ số.

An toàn "thoát" khủng hoảng

Hội thảo năm nay đã tập trung thảo luận về hiện trạng phát triển, cơ hội thị trường của các lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông, Internet và nhất là dịch vụ/nội dung số tại Việt Nam. Bên cạnh đó, các giải pháp, kiến nghị, đề xuất liên quan đến chính sách, định hướng phát triển của Nhà nước đối với thị trường CNTT cũng được các chuyên gia, doanh nghiệp trong và ngoài nước chia sẻ trên diễn đàn.

Sự tham dự của các quan chức cấp cao như Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Lê Doãn Hợp, Phái viên của Thủ tướng Chính phủ về CNTT Đỗ Trung Tá cùng nhiều nhà lãnh đạo khác đã cho thấy sự quan tâm của Việt Nam đối với ngành công nghiệp CNTT, cũng như tái khẳng định quyết tâm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về việc xây dựng ngành CNTT Việt Nam trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.

Theo số liệu thống kê được công bố tại Hội thảo, kể từ năm 2000 tới nay, tốc độ tăng trưởng của thị trường CNTT Việt Nam luôn ở mức trên 25%. Bước sang năm 2009, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tốc độ này có phần chậm lại nhưng vẫn đạt xấp xỉ 20%, một con số được Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đánh giá là "rất đáng mừng" và "đáng trân trọng", bởi nó là niềm mơ ước của nhiều quốc gia khác. Giá trị xuất khẩu của ngành công nghiệp công nghệ cũng đạt 3,2 tỷ USD, tăng khoảng 19% so với năm 2008.

Theo một cuộc thăm dò mới nhất của hãng tư vấn A.T Keaney (Mỹ), trong năm 2009, Việt Nam đã cải thiện tới 9 bậc để leo lên vị trí thứ 10 trong danh sách Những quốc gia hấp dẫn nhất về gia công phần mềm. Trong đó, Thành phố Hồ Chính Minh hiện đứng thứ 5 trên tổng số 50 thành phố ở các nước đang phát triển, còn Hà Nội giữ vị trí số 10.

"Hai lĩnh vực phụ thuộc nhiều vào thị trường nội địa là phần cứng và nội dung số lại giữ nguyên được đà tăng trưởng, thậm chí tăng nhẹ. Điều này cho thấy khu vực nội địa đã vượt qua khủng hoảng, dù thị trường quốc tế còn chưa hết khó khăn", ông Nguyễn Trọng Đường, Quyền Vụ trưởng Vụ CNTT - Bộ TT&TT phân tích. Tất nhiên, quy mô thị trường còn nhỏ thì dễ dàng đạt mức tăng trưởng cao hơn so với các nước đã phát triển, nhưng dù sao, đây vẫn là một nỗ lực đáng coi trọng của Việt Nam.

Dịch vụ số và Thương hiệu quốc gia

Phát biểu trước các cử toạ, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đánh giá sự tăng trưởng nhanh chóng của ngành CNTT trong 10 năm qua là một "xu hướng rất đáng quan tâm và trân trọng". Thậm chí, "trong kế hoạch sắp tới, cũng nên đặt mục tiêu tăng trưởng CNTT gấp 3 lần tăng trưởng kinh tế".

Chủ động phát biểu cuối cùng để lắng nghe tham luận trước đó của các cơ quan hữu trách lẫn đại diện các hãng công nghệ lớn như IBM , Yahoo, Phó Thủ tướng đã nhấn mạnh giá trị xuất khẩu 2,7 tỷ USD của thị trường phần cứng (trên tổng doanh thu 4 tỷ USD) cho thấy thị trường quốc tế có một ý nghĩa rất quan trọng. Tương tự, với đà tăng trưởng trên 30% hiện nay, thị trường phần mềm dự kiến sẽ vượt mốc 1 tỷ USD vào năm 2010 và tăng lên 1,5 tỷ USD vào năm 2011.

"Tuy nhiên, đáng quan tâm nhất là các DN cung cấp nội dung số và dịch vụ CNTT". Hiện thị trường này đang tăng trưởng rất nhanh với tốc độ 55%. Đây hiển nhiên là điều đáng mừng, song Phó Thủ tướng nêu ra câu hỏi "Liệu tốc độ này có thể duy trì lâu không? Liệu đến năm 2011, ngành dịch vụ/nội dung có thể đạt 1,5 tỷ USD và vượt cả phần mềm hay không?

Một điểm mới của Hội thảo mang tầm quốc gia này là lần đầu tiên, thị trường dịch vụ CNTT được khẳng định sẽ là "trọng tâm phát triển, quan tâm đẩy mạnh" của Việt Nam trong thời gian tới. Theo đại biểu đến từ IBM, dịch vụ IT sẽ là một ngành tăng trưởng bùng nổ trong tương lai gần, với tổng doanh thu toàn cầu lên tới 1.000 tỷ USD vào năm 2012.

Trong khi các quốc gia phát triển và nhiều tập đoàn công nghệ khổng lồ đều đã dịch chuyển dần từ mô hình sản xuất sang cung cấp dịch vụ bởi tỷ lệ lợi nhuận hấp dẫn của thị trường này, thì tại Việt Nam, tiềm năng và cơ hội cũng được đánh giá là rất sáng sủa. Mặc dù vậy, một thực tế là thị trường dịch vụ CNTT vẫn còn đang bị bỏ ngỏ và chưa tương xứng với kỳ vọng.

"Nhiều nước đã thông qua dịch vụ và nội dung số để tích luỹ kinh nghiệm, đi ra quốc tế. Thí dụ như Hàn Quốc "đem phim và game đi đánh xứ người". Đồng thời, dịch vụ CNTT cũng giúp DN cạnh tranh nội địa tốt hơn, giữ vững thị trường nội địa trước làn sóng cạnh tranh quyết liệt từ các tập đoàn quốc tế", Phó Thủ tướng nhận định.

Dồn sức có trọng điểm

Theo Phó Thủ tướng, thông thường, một DN trong nước muốn xây dựng và phát triển thương hiệu, sự tín nhiệm thì phải mất không dưới 10 năm, đơn cử như trường hợp của Công viên phần mềm Quang Trung (QTSP) trong TP Hồ Chí Minh, địa phương đang đi đầu cả nước về ứng dụng và phát triển CNTT. QTSP đã phải mất 9 năm tích luỹ kinh nghiệm, xây dựng quy trình chuẩn để tạo được uy tín với các đối tác trong và ngoài nước. Vì thế, Phó Thủ tướng đề xuất nên có chương trình hỗ trợ mang tính nhà nước, đối với các doanh nghiệp lớn, đã có thương hiệu từ 5-10 năm để họ phát triển mạnh mẽ hơn, đủ sức tiến ra quốc tế.

"Nên chăng, Bộ TT&TT nên xem xét mở rộng mô hình QTSP, xây dựng các khu công nghiệp phần mềm có thương hiệu QTSP tại nhiều địa phương khác (với bộ máy quản lý đã được chuẩn hoá sau 9 năm hoạt động), để làm sao khi các khu công nghiệp QTSP dù mới thành lập vẫn được đối tác nước ngoài tin cậy, đối xử như với QTSP gốc.

Điều quan trọng, theo Phó Thủ tướng, là phải xây dựng cơ chế thương hiệu cho các công ty lớn. "Chúng ta tập trung xây dựng cho 10 - 15 công ty Việt Nam lớn nhất, thậm chí là tuyên truyền cho họ trên thị trường quốc tế. Có thể, doanh nghiệp trong nước mới có thể đi ra quốc tế thành công".

Về bài toán nhân lực CNTT đang khiến nhiều doanh nghiệp đau đầu, Phó Thủ tướng gợi ý về việc thành lập "một công ty đào tạo nhân lực trong nước theo đơn đặt hàng", "đào tạo để có lợi nhuận hẳn hoi". Công ty này sẽ nhận được sự hỗ trợ, hợp tác đào tạo từ 5-6 tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới như Microsoft , IBM, Intel... và đội ngũ nhân lực đào tạo ra không chỉ cung ứng cho số DN này khi họ có nhu cầu, mà còn nhằm thoả mãn cho cả thị trường nội địa.

"DN có thể than phiền rất nhiều về đào tạo, nhưng làm sao có thể đào tạo nhân lực trình độ cao ở một nước mà trình độ phát triển kinh tế còn thấp?" Chúng ta phải có mô hình lôi kéo được yêu cầu, đòi hỏi tuyển dụng cũng như kỹ năng của doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam. Nói cách khác, chúng ta phải kéo được năng lực nghiên cứu, mô hình hiện đại và nhu cầu cao của quốc tế vào trong nước, chứ không thể chỉ trông chờ vào các doanh nghiệp nội địa", Phó Thủ tướng kết luận.

(Thanh Phương -

Theo Vietnamnet)

Share: