Thứ Sáu, 8 tháng 6, 2012

Mô hình Groupon có bền vững?

grouponBiên lợi nhuận liên tục giảm đã khiến nhiều người đặt dấu hỏi về tính bền vững của mô hình kinh doanh Groupon .

Trong chưa đầy 3 năm kể từ khi được thành lập năm 2008, Groupon đã định vị mình như một ông vua trên thị trường cung cấp các vụ giao dịch giảm giá trực tuyến. Thị trường này được hãng nghiên cứu Mỹ BIA/Kelsey dự báo sẽ tạo ra 3,9 tỉ USD doanh số bán chỉ riêng tại Mỹ trong năm 2015, từ mức 873 triệu USD của năm 2010. Vì thế, khi có thông tin Groupon chuẩn bị phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO), giới đầu tư càng lên cơn sốt.

Tuy nhiên, khi chính thức nộp hồ sơ xin phát hành IPO lên Ủy ban Chứng khoán Mỹ (SEC) vào đầu tháng 6.2011, Hãng cũng đối mặt với hàng loạt mối nghi ngờ về tính bền vững trong mô hình kinh doanh.

Mặt sau của những con số

Phải thừa nhận Groupon là công ty có tốc độ tăng trưởng nhanh không thể tin nổi. Số lượng đăng ký đã tăng lên 83,1 triệu người trong quý I/2011 từ mức 3,4 triệu cách đây một năm và số giao dịch của Groupon đã tăng lên đến 28,1 triệu từ mức 1,8 triệu. Lãi gộp của Công ty (phần còn lại sau khi đã ăn chia với các nhà kinh doanh hàng hóa/dịch vụ) đã tăng lên đến 270 triệu USD trong quý I từ mức 20 triệu USD cùng kỳ năm ngoái. Groupon hiện cung cấp phiếu giảm giá tại hơn 500 thị trường trên thế giới, so với 260 của LivingSocial.com (Mỹ), đối thủ lớn nhất của Groupon.

Đó là lý do cho việc nhà đầu tư sẵn sàng đặt cược vào sự bành trướng của Groupon trong tương lai (Tháng 3 vừa qua, Groupon đã được định giá lên tới 25 tỉ USD). Tuy nhiên, nếu nhìn vào mặt sau của những con số trên thì đó không phải là một bức tranh đẹp.

Theo Yipit Data, công ty chuyên theo dõi các website cung cấp các vụ giao dịch giảm giá trực tuyến, xét trên số tiền mà mỗi khách hàng và người đăng ký đem lại cho Groupon, doanh thu thực ra đang giảm xuống. Doanh thu mỗi người đăng ký tính đến ngày 30.6.2009 là vào khoảng 21,69 USD/người. Nhưng tính đến ngày 31.3.2011, con số này đã giảm đến 64,2%, còn chỉ hơn 7,76 USD/người. Doanh thu mỗi khách hàng mang lại cho Groupon cũng giảm 46,8% trong cùng thời gian trên. Và số vụ giao dịch Groupon thành công trên mỗi khách hàng đã giảm 34% và giá trị giao dịch trên mỗi khách hàng cũng giảm 19%.

Đó là lý do nhiều ý kiến cho rằng, mô hình kinh doanh của Groupon khó có thể thành công trong dài hạn. Vì đây là mô hình ai cũng có thể dễ dàng sao chép. Có thể thấy, hiện tại, đã có đến 482 bản sao của Groupon.

Việc Groupon hoạt động trong lĩnh vực mà ai cũng có thể vào được có nghĩa là biên lợi nhuận của Groupon sẽ sụt giảm mạnh khi ngày càng nhiều đối thủ nhảy vào. Trên thực tế, các con số trên của Groupon đã cho thấy điều đó đang diễn ra.

Hiện tại, Groupon ăn chia với các nhà kinh doanh theo tỉ lệ 50-50 trên mỗi phiếu mà Hãng bán ra. Nhưng theo trang web BusinessInsider, tại nhiều thị trường, Groupon ăn chia theo tỉ lệ 80-20, tức Hãng chỉ nhận 20% doanh số trên mỗi phiếu bán ra. Đây có phải là cách để Groupon giành thị phần ở một số thị trường mà Hãng cho là trọng yếu, hay đó chỉ là một xu hướng Nếu đó là một xu hướng thì rõ ràng biên lợi nhuận của Groupon đang lâm nguy. Như vậy, liệu nhà đầu tư có còn kỳ vọng rằng họ sẽ nhận được mức cổ tức cao từ một công ty đang đi xuống?

Gánh nặng chi phí marketing

Để bành trướng, Groupon đã tuyển lao động lên mức 7.107 người tính đến cuối tháng 3.2011, từ mức 37 người vào tháng 6.2009. Công ty cho biết, doanh thu trên mỗi nhân viên kinh doanh trong quý I là 170.000 USD/tháng, tăng từ mức 87.000 USD cách đây 2 năm. Nhờ đó, doanh số bán của Groupon đã tăng gấp hơn 14 lần, đạt 644,7 triệu USD trong quý vừa qua. Tuy nhiên, theo ông Pat Becker Jr., nhà quản lý danh mục đầu tư tại Becker Capital Management (công ty này quản lý 2,5 tỉ USD tài sản của khách hàng), chi phí marketing lại tăng trưởng nhanh hơn cả doanh số bán. Điều đó có nghĩa là Groupon có thể không kiếm đủ tiền để bù vào chi phí.

Quả thực, chi phí marketing là khoản chi lớn nhất của Hãng khi đã lên tới 208,2 triệu USD trong quý I/2011. Công ty cũng đã bỏ ra 179,9 triệu USD để gia tăng lượng người đăng ký nhằm cạnh tranh với đối thủ LivingSocial.com. Groupon cho rằng, mức chi phí đó là xứng đáng. Trong hồ sơ gửi lên SEC, Công ty nhấn mạnh việc chi 18 triệu USD đã giúp gia tăng thêm 3,7 triệu người đăng ký trong quý II năm 2010. Đến quý I năm nay, những cá nhân đó đã tạo ra 145,3 triệu USD doanh thu và 61,7 triệu USD lãi gộp.

Tuy nhiên, mức chi quá lớn đã khiến Công ty bị lỗ ròng 117,1 triệu USD trong quý I/2011. Nếu tính từ năm 2008, con số này lên tới 540,2 triệu USD.

Về vấn đề này, trong hồ sơ nộp lên SEC, Groupon giải thích, một khi đã giành được thị trường thì chi phí marketing sẽ giảm xuống. Tuy nhiên, theo A.B. Mendez, chuyên gia phân tích thuộc GreenCrest Capital Management LLC ở New York, với mức chi cho marketing quá lớn thì sẽ rất lâu Groupon mới có thể đạt được mức sinh lời. "Cũng chưa rõ là biên lợi nhuận dài hạn của họ là như thế nào hoặc khi nào thì họ mới có thể đạt được mức sinh lời ổn định", ông nói.

Biên lợi nhuận sa sút, mô hình kinh doanh thì dễ dàng kết nạp thêm người chơi. Vậy để tồn tại và phát triển, lợi thế cạnh tranh lâu dài của Groupon là gì? Đó là câu hỏi quan trọng nhất mà nhà đầu tư đặt ra cho Groupon. Nói cho cùng, khi đầu tư vào một công ty, cái họ mong muốn là lợi nhuận mà khoản đầu tư mang lại. Vì thế, việc trút vốn vào một công ty có tốc độ tăng trưởng nhanh nhưng làm ăn không có lãi thì dường như không phải là việc làm khôn ngoan.

- Ngô Ngọc Châu -

(Phương Trinh -

Theo Nhịp Cầu Đầu Tư/NYT, Bloomberg, BusinessInsider)

Share:

Thứ Tư, 6 tháng 6, 2012

Bất động sản và chuyện làm thương hiệu

Nguyên nhân chính của nhiều vấn đề về phát triển bất động sản hiện nay bắt nguồn từ chênh lệch giữa kỳ vọng của người mua và hành vi của người bán. Về cơ bản, cảm nhận của hai phía hoàn toàn khác nhau, dẫn đến một vấn đề truyền thống về hình ảnh thương hiệu. So với bất cứ loại hình kinh doanh nào khác, bất động sản là loại hàng hoá đòi hỏi mối quan hệ cảm tính mật thiết giữa người mua và người bán.

Những nhà đầu tư bất động sản có thể nâng cao thành công nếu họ biết quản lý hệ thống nhận diện thương hiệu như những yếu tố kinh doanh khác.

Những doanh nghiệp tham vọng xây dựng một thương hiệu thành công đều phải bắt đầu từ việc nghiên cứu. Khi bắt tay xây dựng một hình ảnh thương hiệu, chúng tôi phải bắt đầu từ chính thương hiệu ấy. Nghiên cứu không chỉ để tìm hiểu những kế hoạch, mục tiêu công ty đặt ra, mà còn phải nắm được những khát khao, tham vọng của thương hiệu ấy. Chúng tôi thường tiến hành phỏng vấn chuyên sâu và một số phương pháp khác như thảo luận nhóm để tìm hiểu về khách hàng.

Một nghiên cứu được tiến hành đúng cách sẽ cho biết suy nghĩ của khách hàng về những sản phẩm đang có, và quan trọng hơn, thứ mà khách hàng muốn có. Sự chênh lệch giữa hai yếu tố này sẽ đặt ra cả cơ hội và thách thức. Ví dụ như thị trường đang có nhu cầu cao đối với những căn hộ giá tầm trung, chất lượng hợp lý; người tiêu dùng có cảm nhận không tích cực về diện tích của những căn hộ hạng sang hay kỳ vọng của người mua về chất lượng các dự án cao cấp.

Tuy nhiên, tìm ra những chênh lệch không có nghĩa là thương hiệu phải làm theo tất cả những gì mà người tiêu dùng muốn.

Khi xây dựng bản sắc nhận diện thương hiệu cho CAO, nhãn hiệu trang sức cao cấp của PNJ, chúng tôi đã tiến hành thảo luận nhóm. Nhiều người cho rằng cái tên này nghe có phần "cứng". Tuy nhiên, CAO là một cái tên ngắn gọn mà giàu ý nghĩa. Nhận thức được vấn đề trong cảm nhận của khách hàng, chúng tôi đã khéo léo thiết kế một mẫu logo mềm mại, tinh tế và không hề "cứng" một chút nào.

Bước tiếp theo trong xây dựng thương hiệu là sử dụng kết quả nghiên cứu nhằm quyết định nét khác biệt độc đáo nhất của thương hiệu để truyền thông tới khách hàng. Trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, nhấn mạnh những nét khác biệt có thể tối đa hoá tính hiệu quả của truyền thông.

Những thương hiệu nổi tiếng cũng có tính cách như con người. Các phương tiện truyền thông để gây ấn tượng cho khách hàng từ lúc ban đầu cho đến khi giao nhà đều phải nhấn mạnh một hình mẫu thương hiệu phù hợp với mong muốn của chủ đầu tư và kỳ vọng của người mua. Sau đó, chủ đầu tư phải tiếp tục lưu giữ hình ảnh này để mang lại cảm giác tự hào cho những cư dân sống ở đây, đồng thời duy trì giá trị của chính bất động sản ấy.

Xây dựng thương hiệu không đơn thuần là thiết kế hình ảnh đẹp mắt và nhất quán, mà hình ảnh ấy phải phù hợp với chính thương hiệu. Hãy thử so sánh vẻ trẻ trung, vui nhộn trong mẫu logo chữ V của VTV6, kênh truyền hình dành cho giới trẻ Việt Nam với hình ảnh mặt trời đang lên đầy sức sống của Ngân hàng Đông Á. Chúng giống như những câu chuyện về chính thương hiệu ấy.

Tuy nhiên, câu chuyện ấy phải đúng với những gì mà thương hiệu có. Chủ đầu tư tìm cách phóng đại một dự án hạng trung thành những căn hộ hạng sang sẽ chẳng thể nào chiếm được lòng tin và xây dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng.

Bên cạnh đó, một trong những bài học lớn nhất mà các chủ đầu tư có thể học hỏi chính là cơ cấu quan hệ thương hiệu. Đa phần các chủ đầu tư không xây dựng được hình ảnh cho các dự án bất động sản, từ đó không thể nâng cao hình ảnh thương hiệu mẹ. Rất nhiều khu nhà mới ở Hà Nội được đặt tên là CT, A hoặc C và kèm theo một con số. Những cái tên như thế chẳng gợi nên bất cứ hình ảnh hay mối liên hệ nào với thương hiệu mẹ cả.

Indochina Land là một ngoại lệ. Sự hiện diện thường xuyên của thương hiệu này không chỉ giúp họ chiếm lĩnh lòng tin của người mua mà còn tạo dựng được một hình ảnh thương hiệu mạnh. Các khu tổ hợp đa năng thường được đặt tên là INDOCHINA + tên gọi. Còn với những dự án có tên riêng như khu nghỉ dưỡng hay sân golf, khẩu hiệu của họ luôn là: "Một công trình chất lượng của INDOCHINA LAND"

Một ví dụ minh hoạ việc sử dụng thiếu hiệu quả tên thương hiệu mẹ cho các dự án là VIMECO. Họ có rất nhiều khu nhà mang tên VIMECO, đồng thời họ lại dùng cái tên này cho những lĩnh vực không liên quan đến bất động sản như Công ty Cổ phần VIMECO Cơ khí và Thương mại, Trường mầm non VIMECO. Rõ ràng, cách làm này không thể gây dựng lòng tin với người mua.

Còn nhiều điều khác mà các chủ đầu tư có thể học hỏi từ những người làm thương hiệu, nhưng những điều vừa nói ở trên sẽ giúp các chủ đầu tư xây dựng một nền tảng vững chắc cần thiết cho thương hiệu của mình.

- Richard Moore -

(Phương Trinh -

Theo Branddance )

Share:

Thứ Ba, 5 tháng 6, 2012

Các thương hiệu xa xỉ đổ xô đến châu Á

Không chỉ tới châu Á để mở cửa hiệu, chi nhánh, một số thương hiệu hàng xa xỉ còn đến đây niêm yết cổ phiếu để tận dụng cơ hội tại thị trường đang tăng trưởng sôi sục nhất thế giới.

Prada nóng lòng thâm nhập sâu hơn vào thị trường hàng xa xỉ Hong Kong. Ảnh: NYT

"Thương hiệu yêu thích của tôi là Gucci. Tôi đã mua một đôi giầy và một chiếc túi của hãng này", anh Lin đến từ tỉnh Phúc Kiến, phía đông nam Trung Quốc cho biết. Ang đang đến Hong Kong để du lịch và mua sắm. Còn bạn của Lin, anh Chen cũng đã có một chiếc túi hiệu Gucci và còn thêm một chiếc ví da màu nâu mà anh mới mua tăng bạn gái với giá 9.000 đôla Hong Kong (1.155 USD).

Cả 2 anh chàng này đều không mấy quan tâm đến việc đầu tư vào cổ phiếu của thương hiệu thời trang xa xỉ Prada (Italy), mới niêm yết tại Hong Kong và bắt đầu giao dịch từ hôm thứ 6. Tuy nhiên, cả 2 đều sẵn sàng rút hầu bao chi trả cho những món hàng hiệu đắt tiền tại thành phố này.

Những khách hàng như thế này đua nhau đến các shop hàng hiệu trên khắp châu Á. Chính sức mua, thị hiếu và khát khao được chứng tỏ sự giàu có của mình là những động lực thúc đẩy sự thay đổi vượt bậc trong ngành công nghiệp xa xỉ toàn cầu trong vài năm qua.

Khi các nước phương Tây đang đối mặt với sự suy yếu của nền kinh tế, Paris, Milan, London và New York giờ không còn là những trung tâm tiêu thụ hàng xa xỉ của thế giới. Giờ đây, những trung tâm này đã chuyển thành Seoul, Thượng Hải, Mumbai và Hong Kong, với những khu mua sắm xa hoa ngang tầm với Bond Street, Champs Élysées hay Fifth Avenue.

"Chúng tôi tin rằng Trung Quốc sẽ trở thành một trong những thị trường tiềm năng nhất cho ngành công nghiệp hàng xa xỉ", ông Patrizio Bertelli, Giám đốc điều hành của Prada, cho biết tại buổi lễ niêm yết của công ty tại Hong Kong vào hôm thứ 6 vừa rồi.

Quyết định niêm yết cổ phiếu của Prada tại Hong Kong, chứ không phải Milan – địa bàn của công ty này gần 100 năm nay, một phần do mong muốn khai thác sâu nhóm đầu tư tiềm năng châu Á – các quỹ đầu tư và những cá nhân giàu có. Điều này cũng phản ánh khát khao của Prada là được gia nhập vào thị trường đang phát triển sôi sục trong ngành công nghiệp hàng xa xỉ.

Đối với một số công ty chuyên cung cấp hàng xa xỉ, khu vực châu Á hiện chiếm từ một phần ba đến một nửa doanh thu bán hàng toàn cầu, con số này tăng vọt chỉ sau vòng 2 thập kỷ trở lại đây. Nhiều thương hiệu còn nhanh chóng mở rộng hệ thống cửa hàng, biến nhiều nơi ở Trung Quốc và Đông Nam Á thành những thiên đường mua sắm.

Năm ngoái, LVMH Moët Hennessy Louis Vuitton , tập đoàn xa xỉ lớn nhất thế giới, đã kiếm được 6,9 tỷ Bảng Anh (9,7 tỷ USD) tại châu Á với hệ thống hơn 800 cửa hàng. Trong khi đó, doanh thu tại 570 cửa hàng ở Mỹ là 4,6 tỷ Bảng Anh.

Ermenegildo Zegna, công ty thời trang nam của Italy, hiện đã có hơn 70 cửa hàng tại Trung Quốc đại lục, Hong Kong và Đài Loan. Giờ đây, khu vực này là thị trường quốc tế lớn nhất của Zegna.

Trong những năm gần đây, Prada đã chậm hơn các đối thủ khác khi mở rộng thị trường tại Trung Quốc đại lục. Nhưng có khoảng một nửa trong số 319 cửa hàng trên khắp thế giới của công ty này nằm ở khu vực châu Á Thái Bình Dương, và hơn chục cửa hàng tại Hong Kong. Prada đang có ý định mở rộng chuỗi cửa hàng của mình tại đây bằng số tiền kiếm được từ vụ IPO (phát hành cổ phiếu lần đầu) ở Hong Kong dự kiến trị giá 2,1 tỷ USD.

Những mối lo ngại của thị trường về cuộc khủng hoảng nợ Hy Lạp và triển vọng kinh tế ảm đạm cũng có thể khiến cho số tiền Prada hay Samsonite kiếm được từ IPO không được như mong đợi. Cổ phiếu của Prada đã tăng 0,3%, giá đóng cửa là 39,6 đôla Hong Kong (5,08 USD) vào hôm thứ 6. Đây là mức tăng khá khiêm tốn so với các công ty Internet niêm yết cổ phiếu thời gian gần đây tại New York.

Luxury-popup

Thị trường hàng xa xỉ sẽ tiếp tục "leo thang" ở châu Á. Ảnh: NYT

Tuy nhiên, một số chuyên gia cho rằng, những bi quan về kinh tế thế giới không mấy ảnh hưởng đến các công ty hàng xa xỉ phương Tây. "Trong dài hạn, nhất định nhà đầu tư sẽ đổ xô mua cổ phiếu của các công ty này". Cho đến nay, nhân tố lớn nhất thúc đẩy giới đầu tư chính là sự giàu có lên của các nền kinh tế châu Á mới nổi, với hàng triệu người mới bước chân vào giới thượng lưu.

Các thị trường xa xỉ truyền thống như Mỹ, Nhật và châu Âu sẽ vẫn chiếm phần quan trọng. Nhưng những khu vực này đã phát triển chín và hầu hết đang phải đương đầu với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Ngược lại, tại châu Á, ngày càng có nhiều người đủ khả năng chi trả cho những chiếc váy, đôi giầy hay những chiếc túi hàng hiệu đắt tiện.

Theo một nghiên cứu của Merrill Lynch và Cap Gemini công bố hôm thứ năm, trong những năm gần đây, số triệu phú tại khu vực Bắc Mỹ và châu Âu không thay đổi nhiều, tương ứng là 3,4 và 3,1 triệu người. Trong khi đó, tại khu vực châu Á Thái Bình Dương, số triệu phú đã tăng từ 2,8 triệu người năm 2007 lên 3,3 triệu vào năm ngoái – vượt qua khu vực châu Âu.

Bất chấp những lo ngại về triển vọng kinh tế Trung Quốc không được như trước đây, số triệu phú của châu Á có thể sẽ sớm vượt qua cả Bắc Mỹ, ông Wilson So của Merrill Lynch bày tỏ quan điểm. Mức phát triển 170 tỷ Bảng mỗi năm của thị trường hàng xa xỉ phản ánh rõ nét xu hướng này.

Năm 2008, châu Âu chiếm 38% thị trường xa xỉ toàn cầu, theo số liệu của Bain & Co. Nhưng con số này đã giảm xuống còn khoảng 37% vào năm ngoái. Trong khi đó, thị phần của châu Á, trong đó có Nhật Bản, đã tăng từ 25% năm 2008 lên 28% trong năm 2010. Công ty tư vấn McKinsey ước tính, riêng Trung Quốc sẽ chiếm một phần năm thị trường xa xỉ toàn cầu vào năm 2015. Thêm vào đó, người tiêu dùng Trung Quốc giờ đây đã dễ dàng bỏ tiền mua sắm những món đồ hàng hiệu, ông Yuval Atsmon, chuyên gia tại chi nhánh của McKinsey tại Thượng Hải cho biết.

Trong vài năm tới, nhiều thương hiệu phương Tây có thể sẽ tăng gấp đôi số cửa hàng của mình tại Trung Quốc để khai thác tiềm năng phát triển to lớn của Quốc Gia này. Một số khác sẽ chọn các niêm yết cổ phiếu để phát triển tại đây. "Trung Quốc thực sự là một sân chơi đầy cạnh tranh cho ngành công nghiệp xa xỉ toàn cầu, và trung tâm trọng lực đang dần chuyển đến đây", ông Atsmon cho biết.

- Tuyến Nguyễn -

(Thanh Phương -

Theo Vnexpress/New York Times)

Share:

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2012

Cuộc cách mạng tên miền internet

tenmienDùng chính tên thương hiệu của doanh nghiệp làm tên miền sẽ không còn là điều ước nữa. Nó sẽ trở thành hiện thực từ năm 2012.

Để các trang web của mình trở nên dễ nhận biết hơn, các doanh nghiệp và tổ chức có thể thay thế đuôi ".com" hay ".fr" bằng ".canon" hay ".paris" tùy theo ý mình. Đây là sự thay đổi mang tính chất lịch sử song còn gây nhiều tranh cãi.

Phát pháo từ Icann

"Ngày 20.6 vừa qua có thể sẽ được ghi vào lịch sử như là ngày internet thay đổi một cách sâu sắc". Đó là đánh giá chưa đầy đủ của Icann, tổ chức quản lý số liệu và tên miền internet, về tác động của cuộc cải cách internet được thông qua ngày 20.6 tại Singapore. Theo đó, kể từ năm 2012, các doanh nghiệp tư nhân có thể sở hữu đuôi miền internet của riêng mình thay cho ".fr" hay ".com".

Các địa chỉ internet này giúp mọi người tiếp cận với các trang web dễ dàng hơn, không cần phải vào các địa chỉ IP của máy chủ, vốn là những dãy số khó nhớ. Ví dụ, với địa chỉ www.lefigaro.fr của báo Le Figaro, người quản trị website này có thể thêm vào dữ liệu mà họ muốn, chẳng hạn như golf.lefigaro.fr hay iphone.lefigaro.fr. "Lefigaro" là tên miền đã được đăng ký với tổ chức phụ trách đặt tên miền Afnic, quản lý đuôi ".fr" của Pháp.

Trong khi các phần đầu của một trang web có thể do mỗi người tự chọn thì phần đuôi lại bị giới hạn. Hiện nay, có khoảng 300 tên miền internet cấp 1, thuộc về từng nước như ".fr", ".de" hay tên miền chung như ".com", ".net" do các tổ chức tư nhân quản lý.

Dưới áp lực của các cuộc vận động hành lang với mong muốn làm phong phú thêm các tên miền trên internet, Icann đã cho phép thêm 14 tên miền mới kể từ năm 2000 như ".xxx" dành cho các trang web đen hay ".mobi" dành cho các trang web về dịch vụ di động.

Song cho tới thay đổi lớn ngày 20.6 vừa qua thì doanh nghiệp tư nhân và các tổ chức mới bắt đầu được quản lý tên miền của chính mình. Cụ thể, điều này có nghĩa Canon được phép sở hữu tên miền ".canon" và quản lý mọi trang web tùy ý, cùng với đó là tên miền cấp 2 dành cho mỗi sản phẩm của doanh nghiệp này.

Ai hưởng lợi đầu tiên?

Các tổ chức muốn sở hữu tên miền dạng này có thể nộp hồ sơ đăng ký cho Icann kể từ ngày 12.1.2012. Đợt tiếp nhận đầu tiên này sẽ kéo dài trong vòng 90 ngày. Những hồ sơ đầu tiên sẽ được xét duyệt vào cuối năm 2012 và tên miền mới sẽ ra mắt vào đầu năm 2013. Thành phố Paris đã dự tính đăng ký tên miền ".paris".

Theo Icann, khoảng 120 doanh nghiệp và tổ chức đã tỏ rõ sự quan tâm và Icann hy vọng sẽ có khoảng 300-1.000 tên miền được đăng ký trong đợt đầu. Các ứng viên chủ yếu mong muốn gìn giữ thương hiệu của mình. Nhưng một số khác lại quan tâm đến các tên miền có tính phân loại như ".bank" (ngân hàng).

Việc tự do hóa tên miền có vẻ là cơ hội kinh doanh tuyệt vời của Icann, cho dù tổ chức phi lợi nhuận này phủ nhận việc này. Các doanh nghiệp muốn đăng ký phải nộp đến 185.000 USD và sau đó là phí duy trì 25.000 USD/năm.

Icann hy vọng sẽ hạn chế được việc lạm dụng đăng ký tên miền vì mức phí cao và thủ tục phức tạp (phải hoàn thành hồ sơ dài gần 200 trang). Theo Le Figaro, các nhà quản lý tên miền mới còn phải chấp nhận có một khoảng thời gian chờ để các doanh nghiệp được ưu tiên mua lại tên miền thương hiệu của họ. Nhưng mỗi lần như thế, họ đều phải trả tiền cho Icann.

- Thụy Anh -

(Thanh Phương -

Theo Nhịp Cầu Đầu Tư/Le figaro)

Share:

Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2012

10 doanh nghiệp lớn nhất thế giới

10_doanh_nghiep_lon_nhat_the_gioi_2011Tạp chí Fortune của Mỹ vừa công bố danh sách thường niên 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới (Global 500). "Đế chế" bán lẻ Wal-Mart vẫn đứng đầu bảng, nhưng dầu lửa mới là ngành công nghiệp chiếm ưu thế tuyệt đối trong top 10.

Đáng chú ý, Trung Quốc đóng góp tới 3 cái tên trong số 10 doanh nghiệp lớn nhất, trong khi Nhật Bản chỉ có 2 công ty lọt vào nhóm này.

Dưới đây là 10 công ty dẫn đầu Global 500 năm 2011:

1. Wal-Mart

Vị trí xếp hạng: 1 (Vị trí xếp hạng năm 2010: 1)

CEO: Michael T. Duke

Số nhân viên: 2.100.000

Quốc Gia : Mỹ

Doanh thu năm 2010: 421,849 tỷ USD (tăng 3,3% so với 2009)

Lợi nhuận: 16,389 tỷ USD (tăng 14,3% so với 2009)

Tài sản: 180,663 tỷ USD

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: 4%

Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản: 9,1%

Đây là năm thứ hai liên tục Wal-Mart chiếm ngôi đầu của danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất nước Mỹ (Fortune 500) và cả Global 500. Wal-Mart được đánh giá cao ở mục tiêu theo đuổi sự phát triển doanh nghiệp bền vững, nhưng cũng bị cho là phân biệt đối xử với nhân viên nữ và đang dính đơn kiện liên quan tới vấn đề này. Kinh tế Mỹ khó khăn đang gây trở ngại cho Wal-Mart, với doanh thu các cửa hàng Wal-Mart tại thị trường Mỹ giảm quý thứ 8 liên tục.

2. Royal Dutch Shell

Vị trí xếp hạng: 2 (Vị trí xếp hạng năm 2010: 2)

CEO: Peter R. Voser

Số nhân viên: 97.000

Quốc gia: Hà Lan

Doanh thu năm 2010: 378,152 tỷ USD (tăng 32,6%)

Lợi nhuận năm 2010: 20,127 tỷ USD (tăng 60,8%)

Tài sản: 322,56 tỷ USD

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: 5%

Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản: 6,2%

Từ đầu năm tới nay, giá cổ phiếu của Shell đã tăng 7,2%. Trong bối cảnh dầu lửa ngày càng khó tìm, Shell đang thúc đẩy lĩnh vực năng lượng thay thế, tiêu biểu là vụ hợp tác với công ty xăng sinh học Cosan của Brazil hồi năm ngoái. Shell còn đang phát triển công nghệ để xây dựng nhà máy khí hóa lỏng nổi trên biển đầu tiên nhằm đạt lợi thế khi tiếp cận các mỏ dầu ở vùng nước sâu.

3. ExxonMobile

Vị trí xếp hạng: 3 (Vị trí xếp hạng năm 2010: 3)

CEO: Rex W. Tillerson

Số nhân viên: 103.700

Quốc gia: Mỹ

Doanh thu năm 2010: 354,674 tỷ USD (tăng 24,6%)

Lợi nhuận năm 2010: 30,46 tỷ USD (tăng 58%)

Tài sản: 302,510 tỷ USD

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: 9%

Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản: 10,1%

2010 là một năm nhiều biến động trên thị trường dầu lửa, nhưng giống như các "đại gia" dầu lửa khác, ExxonMobile đã đạt thành tích kinh doanh đáng nể. Chuẩn bị trước cho những thay đổi trong tương lai, ExxonMobile đang tăng đầu tư vào các loại năng lượng thay thế, nhất là khí tự nhiên.

4. BP

Vị trí xếp hạng: 4 (Vị trí xếp hạng năm 2010: 4)

CEO: Robert W. Dudley

Số nhân viên: 79.700

Quốc gia: Anh

Doanh thu năm 2010: 308,928 tỷ USD (tăng 25,5%)

Lợi nhuận năm 2010: -3,719 tỷ USD (giảm 122,4%)

Tài sản: 272,262 tỷ USD

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: -1%

Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản: -1.4%

Thảm họa tràn dầu hồi tháng 4 năm ngoái trên Vịnh Mexico đã nhấn chìm BP. Hãng này cho biết sẽ phải huy động 30 tỷ USD để khắc phục hậu quả, và nhiều tài sản đã bị bán tháo cho mục đích này. Tuy nhiên, trong thời gian 2010-2016, BP vẫn dự định có tới 32 dự án mới.

5. Sinopec Group

Vị trí xếp hạng: 5 (Vị trí xếp hạng năm 2010: 7)

CEO: Fu Chengyu

Số nhân viên: 640.535

Quốc gia: Trung Quốc

Doanh thu năm 2010: 273,422 tỷ USD (tăng 45,8%)

Lợi nhuận: 7,629 tỷ USD (tăng 32,5%)

Tài sản: 225,388 tỷ USD

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: 3%

Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản: 3,4%

Là hãng khai thác và lọc hóa dầu lớn nhất của Trung Quốc, Sinopec giờ đã vươn lên ngang tầm với các tập đoàn dầu khí đa quốc gia khổng lồ. Tuy nhiên, cái khó của Sinopec so với các đối thủ nước ngoài là phải chịu áp lực từ Chính phủ Trung Quốc trong vấn đề tăng giảm giá xăng dầu trong nước. Mặc dù vậy, Sinopec đang mở rộng hoạt động ở nước ngoài, với 9 dự án ở nước ngoài ký kết trong năm 2010.

6. China National Petroleum

Vị trí xếp hạng: 6 (Vị trí xếp hạng năm 2010: 10)

CEO: Jiang Jiemin

Số nhân viên: 1.674.541

Quốc gia: Trung Quốc

Doanh thu năm 2010: 240,192 tỷ USD (tăng 45,1%)

Lợi nhuận năm 2010: 14,367 tỷ USD (tăng 39,9%)

Tài sản: 399,101 tỷ USD

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: 6%

Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản: 3,6%

China National Petroleum tuyên bố có đủ khả năng tăng trữ lượng dầu lửa và khí đốt với tốc độ đủ để thỏa mãn cơn khát dầu của nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới. Một phần sức mạnh của tập đoàn này xuất phát từ mối quan hệ tốt với chính phủ và các công ty đa quốc gia ở các nước nhiều dầu lửa. China National Petroleum hiện đang hợp tác chặt chẽ với Nga, Venezuela, Iraq và Qatar, cũng như BP, Total và Shell.

7. State Grid

Vị trí xếp hạng: 7 (Vị trí xếp hạng năm 2010: 8)

CEO: Liu Zhenya

Số nhân viên: 1.564.000

Quốc gia: Trung Quốc

Doanh thu năm 2010: 226,294 tỷ USD (tăng 22,7%)

Lợi nhuận năm 2010: 4,556 tỷ USD

Tài sản: 315,268 tỷ USD

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: 2%

Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản: 1,4%

Công ty điện lực hàng đầu Trung Quốc đang phát triển mạnh cùng nhu cầu tiêu thụ năng lượng ở nước này. Thành lập năm 2002, State Grid hiện đang cung cấp năng lượng cho hơn 1 tỷ dân tại 26 tỉnh của Trung Quốc. Theo hãng nghiên cứu Pike Research, riêng trong quý 1/2011, State Grid đã mua 70% trong tổng số 17,4 triệu thiết bị đo điện thông minh được bán trên toàn cầu. Đây được xem là một nỗ lực lớn của công ty này trong việc thu thập dữ liệu tiêu thụ năng lượng của người tiêu dùng.

8. Toyota Motor

Vị trí xếp hạng: 8 (Vị trí xếp hạng năm 2010: 5)

CEO: Akio Toyoda

Số nhân viên: 317.716

Quốc gia: Nhật Bản

Doanh thu năm 2010: 221,760 tỷ USD (tăng 8,6%)

Lợi nhuận năm 2010: 4,766 tỷ USD (tăng 111,3%)

Tài sản: 359,862 tỷ USD

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: 2%

Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản: 1,3%

"Bão" thu hồi xe đã lắng xuống, nhưng một thảm họa khác lại ập xuống với Toyota. Sản lượng của hãng đang diễn biến theo chiều hướng sụt mạnh sau vụ động đất và sóng thần lịch sử ở Nhật hồi tháng 3 vừa qua. Doanh số của Toyota tại các thị trường phát triển suy giảm trong năm 2010, nhưng với sự gia tăng doanh số ở các thị trường mới nổi, hãng vẫn tiêu thụ được hơn 7 triệu xe, tăng 71.000 xe so với năm 2009.

9. Japan Post Holdings

Vị trí xếp hạng: 9 (Vị trí xếp hạng năm 2010: 6)

CEO: Jiro Saito

Số nhân viên: 233.000

Quốc gia: Nhật Bản

Doanh thu năm 2010: 203,958 tỷ USD (tăng 0,9%)

Lợi nhuận năm 2010: 4,891 tỷ USD ( tăng 0,9%)

Tài sản: 3.535 tỷ USD

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: 2%

Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản: 0,1%

Lần đầu Japan Post Holdings lọt vào danh sách Global 500 của Fortune là cách đây 2 năm. Tập đoàn này trải rộng trên nhiều lĩnh vực gồm ngân hàng, bảo hiểm, chuyển phát thư tín… Khó khăn mà Japan Post Holdings đang phải đối mặt bao gồm sự suy giảm trong khối lượng thư tín, tài khoản tiết kiệm và hợp đồng bảo hiểm tại thị trường trong nước.

10. Chevron

Vị trí xếp hạng: 10 (Vị trí xếp hạng năm 2010: 11)

CEO: John S. Watson

Số nhân viên: 62.196

Quốc gia: Mỹ

Doanh thu năm 2010: 196,337 tỷ USD (tăng 20,1%)

Lợi nhuận năm 2010: 19,024 tỷ USD (tăng 81,5%)

Tài sản: 184,769 tỷ USD

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: 10%

Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản: 10,3%

Năm nay, Chevron có kế hoạch thu hẹp hoạt động ở mảng lọc hóa dầu để tập trung hơn vào việc khai thác. Hãng đang có trong tay một lượng tiền mặt dồi dào, ở mức 5,3 tỷ USD vào cuối quý 1/2011. Hồi đầu năm nay, Chevron mua lại hãng năng lượng Atlas Energy để tiếp cận với các tài sản khí đốt của hãng này ở khu vực Đông Bắc nước Mỹ. Hãng cũng kỳ vọng sẽ được phép tăng cường khai thác dầu trên Vịnh Mexico trong thời gian tới.

- An Huy -

(Phương Trinh -

Theo Vneconomy)

Share:

Thứ Bảy, 2 tháng 6, 2012

Đối phó với nạn nhái thương hiệu: Bài học từ Apple

fake-appleHiện tượng ăn theo/nhái theo những gì đem lại thành công của người khác không phải là hiếm trên thế giới. Ở Việt Nam, nhiều vụ nhái nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp, tên thương mại... làm các doanh nghiệp chân chính hao tiền tốn của để kiện tụng khiếu nại.

Dưới đây là câu chuyện liên quan đến chuỗi cửa hàng bán sản phẩm Apple nhái ở Trung Quốc và cách thức đối phó của doanh nghiệp chánh hiệu.

Theo báo cáo của tờ Metropolitan Times đăng trên trang chủ của tỉnh Côn Minh hôm thứ hai thì sở Thương mại và công nghiệp tỉnh Côn Minh đã tiến hành điều tra hơn 300 cửa hàng điện tử ở bốn quận lớn trong thành phố này ngay sau khi một blogger viết về các cửa hàng Apple nhái. Các cửa hàng bán lẻ Apple Store giả đã "sao chép" nguyên xi các cửa hàng của Apple, từ cầu thang uốn lượn đặc trưng cho đến đội ngũ nhân viên mặc áo phông có đính logo "quả táo" kèm thẻ tên như "hàng thật". Thậm chí nhân viên trong các cửa hàng này còn tuyên bố họ làm việc cho Apple.

Nhái theo sự thành công

Apple đã thành công trong rất nhiều lĩnh vực, từ việc tạo ra các sản phẩm tiên phong như máy nghe nhạc iPod, điện thoại iPhone cho đến máy tính bảng iPad, điều đặc biệt là tất cả những sản phẩm hay phần lớn đều được phân phối thông qua hệ thống/chuỗi các cửa hàng được uỷ quyền, còn gọi là Apple Store.

Đặc trưng trong chuỗi các cửa hàng của Apple là thiết kế rất ấn tượng, trẻ trung, cá tính và rất khác nhau. Tuy nhiên, trên tất cả các cửa hàng chính hãng cả ở phía ngoài lẫn phía trong đều có logo/nhãn hiệu/biểu tượng của Apple, nhiều trong số đó đã là những dấu hiệu đã trở nên quá quen thuộc đối với người tiêu dùng.

Một số cửa hàng tuy không có mối liên hệ gì với Apple nhưng cũng kinh doanh/bán các sản phẩm của Apple, thực ra bản thân việc bán các sản phẩm của Apple không có điều gì đáng lưu ý về mặt pháp lý trong phần lớn các trường hợp nếu các sản phẩm đó đã được các cửa hàng mua - bán một cách hợp pháp.

Vấn đề chỉ nảy sinh khi những cửa hàng, vì muốn ăn theo, nhái theo sự thành công của Apple và để thu hút sự chú ý của khách hàng đã thiết kế, trang trí những cửa hàng của mình giống như hoặc theo phong cách của chuỗi các cửa hàng Apple Store. Chắc hẳn Apple sẽ không vui trước hiện trạng này, nhưng suy cho cùng họ có thể làm gì?

Hành động của Apple

Tại Côn Minh - Trung Quốc, đã có cửa hàng bị đóng cửa khi cơ quan chức năng vào cuộc, tuy nhiên báo chí không cho biết Apple có đứng đằng sau quyết định này hay không. Thật ra, nếu vụ việc xảy ra tại Việt Nam thì Apple cũng nắm trong tay mình khá nhiều cơ sở để có thể yêu cầu các cửa hàng nhái phải loại bỏ những dấu hiệu có thể khiến cho người tiêu dùng bị nhầm lẫn, qua đó bảo vệ được chính mình.

Một cách đơn giản, Apple có thể yêu cầu các cửa hàng không được sử dụng hình ảnh quả táo bị cắn dở vốn dĩ đã rất nổi tiếng của Apple và đã được Apple đăng ký tại nhiều nước trong đó có Việt Nam, tại Việt Nam hình ảnh quả táo này được đăng ký theo hệ thống đăng ký quốc tế của thoả ước Madrid với số đăng ký là 885881.

Cũng tương tự như vậy, ở bất kỳ chỗ nào phía ngoài cũng như phía trong khu vực bán hàng của cửa hàng nhái mà có những dấu hiệu/nhãn hiệu đã được bảo hộ của Apple, thì Apple cũng có quyền yêu cầu người vi phạm phải chấm dứt và loại bỏ các yếu tố này khỏi cửa hàng mà những dấu hiệu/yếu tố đã được bảo hộ của Apple thì rất nhiều như Apple, iPhone, Apple store v.v. Khi đó những cửa hàng thiếu đi những yếu tố nhận diện quen thuộc trên sẽ loại trừ hoặc giảm thiểu khả năng nhầm lẫn của khách hàng.

Ngoài vũ khí chính yếu là quyền sở hữu đối với các nhãn hiệu đã được bảo hộ, Apple còn có thể viện dẫn đến những quy định về quyền tác giả để bảo vệ mình. Cụ thể, đã có nhiều công ty/doanh nghiệp đi đăng ký hình thức thiết kế của những cửa hàng chính hãng/được uỷ quyền của mình dưới hình thức là tác phẩm mỹ thuật ứng dụng, khi đó nếu có một chủ thể khác bắt chước/nhái theo hình thức thể hiện này thì chủ sở hữu có quyền yêu cầu bên vi phạm phải chấm dứt hành vi vi phạm và có thể đề nghị cơ quan công quyền can thiệp nếu cần thiết.

Khuyết điểm của phương thức này là, trên thực tế Apple thiết kế những cửa hàng của mình theo những phong cách độc đáo nhưng lại rất khác nhau giữa các cửa hàng, và không biết liệu Apple có đi đăng ký bản quyền cho tất cả các dạng thiết kế/trình bày đó không. Vì vậy, mặc dù việc đăng ký một tác phẩm theo luật bản quyền là không bắt buộc nhưng nếu tác phẩm không được đăng ký thì nếu có tranh chấp, vi phạm sẽ kéo theo quá trình chứng minh rất tốn thời gian và tiền bạc.

Apple cũng có thể viện dẫn những quy định liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh để xử lý những cửa hàng nhái. Bản chất của biện pháp này là dựa vào những chỉ dẫn thương mại như nhãn hiệu, tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh đã được sử dụng trước và có uy tín của mình để chống lại các hành vi bắt chước, nhái các chỉ dẫn này do chúng có khả năng gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, nguồn gốc của hàng hoá, dịch vụ.

Tuy nhiên, trên tất cả phải là vai trò của Apple, với tư cách là chủ thể có quyền, người bị thiệt hại, họ chứ không phải ai khác sẽ phải đứng lên hàng đầu trong công cuộc đấu tranh để bảo vệ chính họ và người tiêu dùng.

- Luật sư Lê Xuân Lộc -

(Phương Trinh -

Theo Vef/SGTT)

Share:

Thứ Sáu, 1 tháng 6, 2012

Thách thức cho mô hình Groupon ở Việt Nam

Mô hình nhiều người tiêu dùng cùng mua hàng hóa, dịch vụ trực tuyến tại cùng một thời điểm để hưởng ưu đãi đã trở thành một trào lưu trong thời gian gần đây ở Việt Nam, với sự tham gia của nhiều nhà cung cấp.

groupon-logo

Mô hình này được đánh giá là mang lại lợi ích thiết thực Win-Win-Win: người mua được giá rẻ (được giảm giá 30-90% so với bình thường), người bán đạt được mục tiêu quảng cáo trực tuyến hoặc giải phóng nhanh lượng hàng tồn kho trước khi tung ra một đợt hàng mới, còn nhà cung cấp dịch vụ thì hưởng chiết khấu từ lượng khách hàng lớn. Do đặc thù của thị trường thương mại điện tử ở Việt Nam, mô hình này vẫn gặp không ít khó khăn, xuất phát từ hai vấn đề muôn thuở: thanh toán và giao nhận.

Sự thành công của trang web áp dụng mô hình mua sắm cộng đồng Groupon ở Mỹ đã mở ra xu hướng phát triển mới cho thương mại điện tử toàn cầu. Mô hình Groupon có nền tảng ban đầu là ThePoint.com do Andrew Mason thành lập vào năm 2008. ThePoint hoạt động dựa trên nguyên lý khi có một số lượng đủ lớn người quan tâm đến một vấn đề nào đó thì sẽ xảy ra hành động thực hiện việc đó, ví dụ: xem phim, chơi nhạc, đi du lịch… Sau 18 tháng hoạt động, dù đạt được số lượng người sử dụng kha khá, nhưng doanh thu (chủ yếu từ quảng cáo) vẫn không khả quan. Khi ThePoint chuẩn bị đóng cửa thì một sự đột phá ý tưởng đã xảy ra, doanh nhân Andrew Mason đã chuyển hướng áp dụng nguyên lý nói trên vào các hoạt động mua một sản phẩm/dịch vụ nào đó. Sau đó trang web này đổi tên site thành Groupon (Groupon = Group + Coupon, kết hợp giữa yếu tố khuyến mãi và yếu tố cộng hưởng số đông). Càng có nhiều người đồng loạt mua một món hàng hay dịch vụ thì họ càng được hưởng mức khuyến mãi lớn.

Cuối năm 2010, Groupon đã được Google đề nghị mua với giá 5,3 tỉ đô la Mỹ nhưng những nhà điều hành doanh nghiệp này đã từ chối. Groupon dự định sẽ phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu (IPO) trong vài năm tới với mức chào bán ước tính 25 tỉ đô la. Groupon cũng được xem là một trong những công ty mới được thành lập (startup) đạt giá trị trên 1 tỉ đô la trong thời gian ngắn nhất (18 tháng kể từ ngày ThePoint chuyển thành Groupon). Theo thống kê sơ bộ, hiện trên thế giới có hơn 500 mô hình học theo nguyên lý của Groupon (thường gọi là Groupon Clone), trong đó có thể kể đến LivingSocial, BuyWithMe… Tạp chí TechCrunch cho biết, doanh thu của Groupon tại Mỹ chỉ riêng trong tháng 2-2011 đạt 103 triệu đô la, tăng 12.5% so với doanh số của tháng Giêng.Ở Việt Nam, trong vòng một năm trở lại đây, mô hình kinh doanh này đã được áp dụng khá rộng rãi với sự ra đời của rất nhiều trang web, như phagia.com.vn (Phá giá) của Mạng xã hội PhuNuNet, muachung.vn (Mua chung) của VC Corp và cucre.vn (Cực rẻ) của công ty vatgia.com, nhommua.com (Nhóm mua) của công ty diadiem.com, hotdeal.vn… hay mới nhất là godeal.vn vừa được cho ra mắt hồi tháng Hai năm nay.

Những thách thức không nhỏ

Học theo kinh nghiệm của Groupon tại Mỹ, trong quá trình phát triển, mô hình kinh doanh này ở Việt Nam cũng đã có những thuận lợi nhất định, cụ thể là sự chấp nhận của người sử dụng. Loại hình dịch vụ này đã đáp ứng đúng nhu cầu mua hàng giá rẻ trong thời buổi giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng cao. Bên cạnh đó, các trang web kể trên kinh doanh các mặt hàng, dịch vụ khá đa dạng do có nhiều nhà cung cấp đồng thời cạnh tranh với nhau. Một yếu tố thuận lợi khác không thể không nhắc đến, xuất phát từ tâm lý đám đông ở thị trường Việt Nam, là nhiều người sử dụng Internet khi thấy có nhiều người đặt mua hàng hóa, dịch vụ thì họ cũng tham gia dù có thể chưa có nhu cầu thực sự ngay lúc đó.

Tuy nhiên, xuất phát từ nền tảng ban đầu là thị trường thương mại điện tử ở Việt Nam vẫn đang chập chững nên loại hình kinh doanh này cũng còn gặp không ít khó khăn.

Đầu tiên là hai vấn đề muôn thuở: thanh toán và giao nhận. Thanh toán đóng vai trò rất quan trọng trong mô hình Groupon theo cả hai chiều từ người mua đến người bán và ngược lại. Theo nguyên lý, nếu số lượng người mua không đủ lớn như mong đợi của người bán thì mức khuyến mãi không đạt được, khi đó nhà cung cấp dịch vụ phải hoàn tiền lại cho khách hàng. Thật không đơn giản khi phải hoàn tiền cho hàng ngàn khách hàng nếu không có phương tiện thanh toán điện tử tốt. Ở Việt Nam, phần lớn các nhà cung cấp dịch vụ theo mô hình Groupon đang chú trọng vào việc tăng trưởng hàng hóa, dịch vụ khuyến mãi và sử dụng phương pháp giao hàng-thu tiền tại chỗ. Phương pháp truyền thống này có điểm hạn chế ở tính tiện lợi khi thanh toán và hoàn tiền như đã nói trên, bên cạnh đó, còn bị giới hạn về địa lý và làm tăng chi phí vận hành của nhà cung cấp dịch vụ.

Trang web đầu tiên về mua sắm theo nhóm là trang Mobshop.com được thành lập năm 1998. Ngay sau khi Mobshop ra đời, đã có rất nhiều trang web tương tự được thành lập ở Mỹ và Anh như LetBuyit.com, Onlinechoice, E.conomy.com…

Chính thức ra đời vào tháng 11-2008 tại Chicago, tính đến tháng 10-2010, Groupon đã có hoạt động tại hơn 150 thị trường ở Bắc Mỹ và 100 thị trường ở châu Âu, châu Á và Nam Mỹ với khoảng 44 triệu thành viên. Chỉ sau bảy tháng thành lập, trang Groupon này đã có lãi. Hồi tháng 4-2010, sau khi nhận được 135 triệu đô la đầu tư từ DST (Digital Sky Technologies), giá trị của Groupon đã đạt mức kỷ lục 1,35 tỉ đô la. Trong khi đó, những mạng xã hội khổng lồ khác như Twitter cần đến ba năm, Facebook cần đến hai năm mới có thể đạt được giá trị 1 tỉ đô la.

Mô hình hoạt động dạng mua theo nhóm đang thay đổi cách kinh doanh của các công ty, đặc biệt là những công ty nhỏ không có khả năng hoặc hạn chế về ngân sách tiếp thị. Có mặt trên trang web Groupon, dù bán hàng với mức giá lỗ, cũng rất có ý nghĩa với một doanh nghiệp nhỏ.

Nhiều người cho rằng Groupon là mô hình thứ tư của thương mại điện tử (B2T - Business To Team). Thật ra đây là mô hình kết hợp giữa thương mại điện tử và quảng cáo. Mục đích cuối cùng của các trang web kể trên không đơn thuần là bán các phiếu khuyến mãi, mà quan trọng hơn là để quảng bá thương hiệu cho nhà cung cấp và cho chính mình.

Một khác biệt lớn khác là mức độ uy tín của người bán tại Việt Nam chưa cao như ở Mỹ, châu Âu hoặc các Quốc Gia có nền thương mại điện tử phát triển trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc nên khi khách hàng sử dụng phiếu khuyến mãi, đặc biệt ở mảng dịch vụ, họ thường không được các nhân viên phục vụ chu đáo. Không ít trường hợp khách hàng than phiền về chất lượng phục vụ đối với các dịch vụ đặt mua theo nhóm và điều này đã xảy ra ngay cả với các thương hiệu. Đôi khi, hàng hóa và dịch vụ không được đúng hoàn toàn như cam kết, thường bị giảm bớt về những quyền lợi mà khách được chủ động lựa chọn (options). Điểm khó nhất ở đây là các nhà cung cấp dịch vụ lại không thể đại diện cho người bán để cam kết chất lượng. Do đó, chất lượng phục vụ của các doanh nghiệp tham gia mô hình Groupon sẽ quyết định sự hài lòng của khách hàng cá nhân đối với dịch vụ. Cũng không ít trường hợp khách hàng e ngại bẫy mua sắm, nếu số người tham gia giao dịch không đủ như yêu cầu của người bán mà dịch vụ lại không hoàn tiền (đã đóng trước) thì họ có thể phải mua những mặt hàng khác mà họ không muốn hoặc với giá cao hơn.

Một khía cạnh cần lưu ý khác là an toàn giao dịch. Đây là một vấn đề chung của tất cả các mô hình Groupon trên thế giới chứ không chỉ riêng ở Việt Nam. Với việc phát hành phiếu khuyến mãi do nhà cung cấp dịch vụ đảm trách chứ không phải doanh nghiệp, nói chung sẽ khó khăn cho doanh nghiệp khi xác thực phiếu khuyến mãi. Đề tài này đã được tranh luận nhiều ở thị trường Mỹ, có nhiều cách để tạo thành phiếu khuyến mãi giả trong trường hợp số seri là liên tục. Còn nếu số seri là ngẫu hứng thì doanh nghiệp sẽ mất khá nhiều thời gian và công sức để có thể xác thực ngay lập tức với nhà cung cấp dịch vụ khi họ nhận về phiếu khuyến mãi từ tay khách hàng.

Khi khách hàng đăng ký thông tin tại các trang web cung cấp dịch vụ thì thông tin này phải được cam kết bảo mật tốt và không cung cấp ra ngoài cho các doanh nghiệp đối tác của nhà cung cấp dịch vụ. Nếu không lưu ý tốt việc này thì dễ dẫn đến trường hợp thông tin cá nhân của khách hàng (số điện thoại, địa chỉ thư điện tử e-mail, địa chỉ liên lạc…) bị chia sẻ ra bên ngoài và khách sẽ phải chịu những phiền toái như thư rác (spam mail), tin nhắn rác (spam SMS)...

Xu hướng mang tính toàn cầu

Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều mô hình kinh doanh đi theo con đường của Groupon như LivingSocial, BuyWithMe… nhưng khoảng cách đến thành công thì còn cách xa Groupon. Đa số các công ty đi sau tạo dấu ấn (footprint) theo hai hướng chính. Thứ nhất, tập trung vào một vùng địa lý nhất định, ví dụ: cung cấp các mặt hàng khuyến mãi tốt nhất cho một thành phố nhất định và tập trung phát triển tốt nhất thị trường ngách (niche market) đó. Thứ hai, nhà cung cấp dịch vụ tập trung vào một số mặt hàng, dịch vụ nhất định mà họ có lợi thế nhiều nhất.Rõ ràng là về nguyên tắc thì nguyên lý của Groupon có thể áp dụng tại bất kỳ đâu cho bất kỳ sản phẩm, dịch vụ nào, do đó, tin chắc là các công ty đi sau vẫn có thể tạo được những thị trường ngách nhất định. Tuy nhiên, để tạo thành một điểm đến duy nhất để người sử dụng có thể tìm được tất cả các mặt hàng khuyến mãi, tại bất kỳ nơi đâu thì lại là một bài toán quá khó, ngay cả với Groupon như lời nhận xét của nhà sáng lập Andrew Mason.Từ đó, đã xuất hiện mô hình Mega Groupon, là những dịch vụ tổng hợp lại các trang Groupon khác nhau cho khách hàng, để họ có thể đến một điểm mà có thể xem được hết các hàng hóa, dịch vụ đang được khuyến mãi tại Groupon, LivingSocial hay BuyWithMe.

Đến đây, chúng ta có thể hiểu tại sao Google lại định trả đến 5,3 tỉ đô la để mua Groupon hồi năm rồi. Công cụ tìm kiếm hàng đầu như Google chính là nơi tốt nhất để làm Mega Groupon. Bạn hãy hình dung có thể lên Google Map, chọn tìm kiếm hàng khuyến mãi, và tìm ra ngay nơi nào trong vòng bán kính 3km tại khu vực bạn ở đang có khuyến mãi sôi nổi nhất.

Còn Groupon thì lại đang đi theo hướng phát triển công cụ Groupon Mobile (http://www.groupon.com/mobile), không chỉ tiện lợi cho khách hàng có thể tìm kiếm và mua các mặt hàng, dịch vụ khuyến mãi ngay trên điện thoại của mình mà thay vì sử dụng phiếu khuyến mãi bình thường, họ có thể sử dụng phiếu khuyến mãi điện tử (digital coupon) được lưu ngay trên điện thoại. Ở thị trường Việt Nam, mảng điện thoại di động đang được các doanh nghiệp viễn thông tập trung phát triển. Từ đó, có thể kỳ vọng rằng nhà cung cấp dịch vụ theo mô hình Groupon nào chiếm lĩnh thị trường di động trước sẽ chiến thắng trong cuộc đua này.

Thị trường mua hàng trực tuyến theo nhóm thật sự đầy tiềm năng và đang mang lại những lợi ích cho cộng đồng khách hàng thương mại điện tử. Tuy nhiên, vẫn còn không ít vấn đề mà các nhà cung cấp dịch vụ phải cạnh tranh với nhau và làm ngày càng tốt hơn để có thể chiếm được lòng tin của khách hàng – chỉ đến khi đó thì mô hình Groupon mới là một trào lưu thật sự và bền vững ở Việt Nam.

- Ông Nguyễn Hoàng Ly là Giám đốc điều hành VietUnion, đơn vị chủ quản ví điện tử Payoo -

Tài liệu tham khảo:

http://maxbeatty.com/blog/2010/04/how-to-fix-groupon/

http://techcrunch.com/2011/03/25/groupons-real-u-s-revenue-numbers-for-february/

http://www.dailydealsdfw.com/Home_Page.html

(Phương Trinh -

Theo TBKTSG)

Share: